Hương khói thật thà

Thắp hương để làm gì. Từ bé đến giờ tôi chưa hỏi ai câu ấy, vì biết rằng mỗi người lớn, mỗi thời khắc khác nhau sẽ có một câu trả lời khác nhau và chắc chắn rằng đáp án nào cũng đáng tin. Thì thôi, so với ngàn năm, so với ông Bành... mình còn trẻ chán. Mình cứ tự vấn tự đáp, mỗi lần một đáp án… như thế có phải mỗi ngày thêm một lớn khôn?

Nhớ ngày nhỏ, chừng lớp một, hai, ba, bốn... hồi đó cả nhà tôi vẫn cư ngụ ở làng (làng Kẹ Thạng, xã Mỹ Trạch, tỉnh Quảng Bình) một cái làng không xa quốc lộ là mấy, nhưng nó âm u, um tùm, không điện, không đường, không lối nào ra lối nào, giao thông trong làng được gọi là lối...  Lối su ông Bồi, lối cạn ông Trì, lối cao ông Sơn, lối thấp ông Nguyên...  (làng gọi tên đường theo cách gọi tùy theo đặc điểm địa hình và cái lối ấy đi qua trước mặt sau lưng một nhà nào đấy), cũng hay!

dâng hương ngày tết.jpg -0
Dâng hương ngày Tết.

Chẳng riêng gì mùa mưa mà mùa nào cũng buồn, nóc nhà tranh, nhà ngói nào cũng khuất che bởi lá tre, lá thị, lá mít, lá khế... và khói bếp. Ngõ nhà, ai sang và siêng thì hàng chè tàu, hàng dâm bụt, hàng cây bồ ngót được cắt tỉa vuông vắn, ai nhác và "bất cần" thì cây gì mọc lên nếu không va vấp chân cẳng thì cứ để thế cho nó mọc lên thành cây thành cọc tạo lối ra vào, cũng hay?!

Làng tôi nhỏ bên sông/ nửa đồi núi/ nửa ruộng đồng/ sông bao quanh làng bốn bến đò ngang. Mở đầu bài thơ “Làng tôi” (đã đăng trên Văn nghệ Quân đội) tôi đã nhớ làng tôi bằng những hình ảnh ấy. Nhìn từ trên cao dáng dấp làng tôi như một vầng trăng khuyết, như cái lưỡi liềm. Bốn bến đò ngang nối làng tôi với Ba Cồn, Thông Thống, Minh Lệ, Quảng Hòa. Bốn bến đò ngang quanh năm dường như chỉ phục vụ cho các bà các mẹ đi chợ, mà phần nhiều là chợ dịp Tết, chợ phiên một, phiên sáu Ba Đồn...

Đi chợ Mới, hoặc chợ Ba Đồn phải dậy từ lúc gà gáy mới kịp đò ngang, đi chợ Hạ (chợ ở làng Hạ Trạch, làng của nhà thơ Lưu Trọng Lư) cũng thể... ba bốn giờ sáng là lộc tộc triêng gióng í ới nhau đi, muộn thì chợ chẳng còn chi để bán mua. Gánh khoai, gánh khế, rổ thị... tất bật xuống chợ... vừa bán vừa tháo... đôi khi chỉ đổi được mớ cá mớ tép long tong. Viết đến đây, nước mắt tôi tự chảy ra... thương, có lẽ tôi thương tôi, thương mẹ tôi, thương cả làng, thương cây khế cây tre cây mít... thương một thời. Thương!

Dịp Tết hay khi nhà có kỵ chạp, mẹ tôi thường phải đi chợ từ sớm khuya, từ bao nặng nhọc và mong manh như thế. Mẹ ơi, mẹ còn nhớ mình đã từng phấp phỏm, lo toan, đã từng phải gánh cả gánh khế, gánh mít... chỉ để bán tháo cho nhanh kịp tiền mua mấy lạng thịt về thắp hương cúng ông bà? Ngoài dăm ba lạng thịt thiêng, thì những dịp ấy, về cùng thúng chợ mẹ tôi luôn có ba thẻ nhang, và tôi vui sướng khi được mẹ tôi sai "mang mấy thẻ nhang đặt lên bàn thờ chặp rồi thắp" và, khi cỗ bát đã xong tôi luôn được mẹ tôi sai "thắp hương đi cu nậy".

Tôi vui sướng, có lẽ vì tôi là trai lớn trong nhà, vì tôi là cháu đích tôn, ba tôi ngày đó làm tuyên huấn trên huyện, ít khi về làng và rất "cách mạng" ít quan tâm chuyện khói nhang...  nên tôi luôn được mẹ tôi phân công nhiệm vụ thắp nhang lên bàn thờ, tôi thấy tôi quan trọng, tôi thấy tôi như một người đưa tin giữa thần linh và trần tục. Tôi mân mê chân nhang, tôi sờ nhè nhẹ từ chân tới ngọn, tôi ngửi sống khi nhang chưa thắp và ngày đó luôn tự hỏi "ai đã nghĩ ra nhang, họ làm nhang bằng gì... " và rồi tự phục: họ tài thế!

Nhang ngày đó khác nhang bây giờ, chân nhang to, vuông và luôn được quét, nhúng màu hồng hồng, phần để thắp, để cháy luôn có màu đen đen, xù xì không trơn láng đều tăm tắp như bây giờ, ấy là hình thức... còn khi đốt lên, khói xanh, khói mỏng và thơm dễ chịu. Ngửi khói nhang là như ngửi được cả sự gần gụi, ngửi được cả sự bao bọc chở che cho bao đói lạnh và âu lo, ngửi được cả bao nhiêu gửi gắm và kỳ vọng. Lạy ông lạy bà, lạy trời lạy đất, lạy mưa thuận gió hòa, lạy mùa màng khấm khá... Mẹ ơi, mẹ còn nhớ mẹ đã khấn như thế mỗi dịp tết nhất, giỗ chạp trước bàn thờ tổ tiên?

Mâm cỗ đã xong xuôi, bếp núc đã gọn gàng, khói từ ngọn nhang đã mong manh và mềm mại uốn lượn từ từ bay lên, ấy là lúc mẹ tôi cứ qua lại ngó nghiêng bàn thờ...  Lúc xích cái dĩa thịt, lúc dịch cái dĩa xôi... cứ như thể mẹ tôi muốn đưa đồ cúng, đưa những gì thơm thảo gần hơn với hồn vía ông bà. Mẹ tôi lầm rầm những điều ước muốn: lạy ông lạy bà... lạy trời lạy đất... trong lời khấn nhỏ của mẹ, tôi nghe những lo toan cơm áo ruộng vườn...

Mẹ tôi nông dân, cả đời úp mặt ruộng cằn nương cộc, lúa khoai chẳng đủ qua mùa giáp hạt, mẹ chẳng ước gì cho mẹ, chỉ ước đủ no khoai no sắn cho chúng tôi. Những khi ấy trên khuôn mặt ba tôi như có nụ cười huyền bí, tôi không hiểu ba tôi vui hay buồn, ba tôi gửi gắm gì với khói hương, ba tôi bài trừ mê tín, không hào hứng với cúng bái. Và, đôi khi ba tôi phản đối chuyện thờ cúng, khói hương. Thế nhưng, có một lần nhân chuyến công tác (hình như đi đại hội, hội nghị gì đó từ trung ương về, trong hành lý ba tôi lôi ra một bó hương to, màu vàng óng đều tăm tắp "hương Hà Nội" ba tôi bảo: Thơm lắm, tốt lắm!

Ba tôi theo khói hương lên giời 19 năm rồi, mỗi dịp tết, dịp giỗ, trước di ảnh ba, mẹ tôi vẫn cắm mấy cây nhang thơm và khấn nhỏ "ông sống khôn chết thiêng... ", khói nhè nhẹ xanh, khuôn mặt ba tôi cũng một nụ cười thầm... dường như khói hương thật thà đã thấm?

Tôi thích mùi khói nhang, nhất là loại nhang Hà Nội, nhang mộc, nhang quê truyền thống (sau này có nhang trầm - nhưng phải là mùi tự nhiên) còn mùi nhân tạo thì đụng cái là bật ngay…dị ứng một cách sâu sắc.

Thế nên, cứ về nhà thấy hương là thắp bất kể ngày giờ, Rằm, mùng Một, lễ Tết và ngày thường thì khói từ nhang khi bay lên có khác gì nhau? Chắc thế, không riêng gì tôi mà bất kỳ ai thì tâm trạng người ngửi cũng không khác mấy giữa ngày linh thiêng và ngày bình thường?! Bởi theo tôi linh thiêng xuất phát từ ý niệm khi ngắm khói, ngửi khói và thấy khói như là nguồn mạch thông động giữa sự sống của người đang sống và người đã khuất.

***

Tôi thích khói hương, khói hương thật thà. Nhưng tôi không thích đốt giấy, bởi mùi khói đốt giấy làm tôi khó thở và tôi thấy những tờ giấy rất đẹp, màu hồng, màu xanh, màu vàng, màu đỏ...  nếu dùng nó để vẽ, viết nên điều gì đó hay ho có lẽ sẽ linh nghiệm hơn cho người sống. Đốt giấy, với tôi chẳng chút nào thi vị, phải chăng vì tôi không thích cái thành ngữ "theo ma mặc áo giấy"...  "theo ma... " nghe nó tách bạch lạnh lùng với hồn vía ông bà chúng ta quá!

Tôi thích khói hương, khói hương thật thà, khói hương như một đức tin và tôi thích trò chuyện với nó. Có phải người ta thắp hương vì thế không?

Hồ Minh Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).