“Hồng Đức quốc âm” vọng đến ngày hôm nay

Các tác giả “Hồng Đức quốc âm” đều là những nhà quý tộc, quan lại mà cao nhất là vua (Lê Thánh Tông), nhưng lại viết về những cảnh vật rất bình dân một cách sinh động. Điều này cho thấy một giá trị văn hóa ở tập thơ là tinh thần dân chủ thật đáng quý: vua quan sống, suy nghĩ như dân, dân nghèo lại sống theo phong cách vua quan.

Những câu chuyện đêm Ba mươi Tết nhà vua “vi hành” tặng câu đối cho dân nghèo có thể không phải là giai thoại mà là chuyện thật, vì như ta thấy hình ảnh người đánh cá, người ăn mày… trong tập thơ cũng đều có “khí tượng đế vương”. Thời nay mà lại có “quan nha” sống như trên trời xa cách hàng ngàn lần dân nghèo, lại càng thấy thời ấy là lý tưởng!!!

Lê Thánh Tông - vị vua thân dân.
Lê Thánh Tông - vị vua thân dân.

Một cảnh lao động thật gần gũi, êm đềm: “Đầu ngàn êu ểu cỏ xanh om/ Thả thả chăn chăn ít lại nom/ Mũi nghé lui chân đứng nhảy/ U trâu vịn cật ngồi khom” (Vịnh người chăn trâu). Bài thơ tả thực: đám trẻ thả trâu ăn ngoài bãi rồi bỏ đi chơi, sợ trâu lạc nên thỉnh thoảng lại chạy ra xem (ít lại nom). Khi ra cưỡi trâu thì lùi lại trước mũi, trèo lên đầu trâu rồi nhảy lên lưng… Không quan sát tinh không thể có cách miêu tả cụ thể như vậy.

Điều rất đáng quý là giá trị người lao động được đề cao tới mức gần như tuyệt đối, ngang tầm với vũ trụ: “Diệt, vắt, tay cầm quyền tướng súy/ Thừa lưa thóc chứa lộc công khanh/ Công A Hành đến trời biếc/ Tiết Tử Lăng còn núi xanh” (Vịnh người đi cày). 

“Diệt, vắt” là hiệu lệnh của người cày hướng trâu đi sang trái (diệt) hay phải (vắt). Người cày được nhìn như là vị “tướng súy” cầm quân, công lao sánh ngang A Hành (tức Y Doãn nhà Thương) có sự nghiệp hiển hách cao như trời xanh; có phẩm chất tiết tháo ngang Tử Lăng (tức Nghiêm Quang nhà Đông Hán) cao cả như núi lớn. Thậm chí có bài (Họa bài người đi cày) người nông dân còn được coi là người sắp xếp lại đất đai, cải biến lại vũ trụ. 

Thời nào cũng vậy, biết trân trọng người lao động thì trước hết đó là những con người tử tế - một phẩm chất mang tính cơ sở, tiền đề của một nhân cách! Cách so sánh làm bật toát lên niềm tự hào: người dân cày xứ ta cũng sánh ngang hàng với những danh nhân xứ Trung Hoa rộng lớn!

Phê bình sinh thái hiện đại coi sự hòa nhập vào tự nhiên, sống cùng/ trong tự nhiên là một nét nhân tính. Nếu vậy thì thơ Hồng Đức đậm đà tinh thần nhân văn, tính từ trước đó, xét trong văn học viết, chỉ sau Nguyễn Trãi. Hẳn nhiên không chỉ là viết nhiều, viết hay, còn là sự miêu tả với thái độ tri ân, trân trọng, biết ơn tự nhiên. 

Thuở giá lui, đầm ấm lại/ Kho đầy phong nguyệt của nhà ta” (Hoa), “giá” là giá rét (mùa đông) đi qua thì không gian ấm áp, tươi tắn (của mùa xuân) trở về. Nhưng ý thơ hướng đến là nói về tinh thần sở hữu tự nhiên ở câu sau, coi tự nhiên như là cái kho nhà mình, đầy đủ, phong lưu, sẵn dùng. Vũ trụ thiên nhiên “vô tận” cũng chấp nhận điều đó một cách tự nhiên nhất: “Trong kho vô tận đòi dùng đủ/ Ấy gió thừa ưa cũng của hằng” (Nguyệt). Con người và tự nhiên thống nhất, hài hòa, “tự nhiên” có “thừa ưa” thì người cũng chỉ “đòi dùng đủ” mà thôi.

Tại sao hôm nay con người ta không được như ngày ấy, lại tham lam quá đáng lạm dụng tự nhiên, để tự nhiên nổi giận?!

Có rất nhiều bài với ý thơ vui vẻ, phóng khoáng, cảnh vật tươi tắn, xôn xao. Con người cùng nhau giao hòa, người hòa với cảnh, cảnh lại như trêu người: “Trời muôn trượng thẳm làu làu sạch/ Nguyệt một vầng in vặc vặc trong/ Quyến khách thơ ngâm lòng phới phới/ Ghẹo người chuông nện tiếng boong boong” (Tháng Tám). 

Thiên nhiên tô điểm cho cuộc sống “thế giới tiên” ấy thêm tươi đẹp, vui vẻ, ấm áp, hài hòa, sinh động, tự do, thân ái: “Đường hoa chấp chới tin ong dạo/ Dặm liễu thung thăng sứ điệp truyền” (Lại vịnh cảnh mùa xuân), và: “Liễu vẽ mày xanh oanh chấp chới/ Mai tô má phấn bướm xun xoăn” (Vịnh cảnh mùa xuân). 

Có xuất hiện hình ảnh “công đường” vốn gắn liền với ý niệm về luật pháp, chính quyền nhưng ở đây cũng “tự nhiên” tuyệt đối, thanh bình tuyệt đối: “Ngoài cửa đùn đùn tan bóng trúc/ Công đường thay thảy phủ màn hòe” (Lại vịnh cảnh mùa hè). Thiên nhiên lại hòa nhập với thiên nhiên cùng bảo vệ nhau, che chở: “Cá ngỡ câu chìm xui bạn lánh/ Chim ngờ cung bắn bảo nhau bay” (Lại vịnh trăng non).

Đền thờ vua Lê Thánh Tông.
Đền thờ vua Lê Thánh Tông.

Đó là thế giới mẫu mực lý tưởng của sự hài hòa con người, tạo vật!

Xin nhấn mạnh thêm về phương diện mỹ học chủ thể ở cái nhìn hóm hỉnh mà trân trọng thương mến con người: “Đùn đùn mây họp cháu con lắm/ Ngần ngật dù che dòng dõi sang/ Ca ngợi ả Tây lừng thủy quốc/ Mặt bằng Lang sáu đượm thiên hương” (Lại vịnh sen). 

Cách miêu tả thiên nhiên bằng từ ngữ miêu tả con người (Đùn đùn mây họp cháu con lắm) cho thấy một quan niệm thiên nhiên như con người, tương hỗ, hài hòa. “Mây họp cháu con” lại để làm “dù” che cho (hoa) sen. 

Đến hai câu sau thì “sen” và “người” lại hòa làm một trong điển tích. “Ả Tây” tức Tây Thi, người tuyệt đẹp đời Xuân Thu thường hay hái hoa sen (nên càng đẹp thêm). “Lang sáu” (có từ âm Hán Việt gọi là “Lục Lang”) lấy từ tích chàng trai Tương Xương Tông (thời Đường) được Vũ Tắc Thiên sủng ái gọi là Lục Lang. 

Có người khen mặt Lục Lang đẹp như hoa sen nhưng Tắc Thiên Hoàng hậu lại cho rằng nói hoa sen đẹp như mặt Lục Lang mới đúng! Không biết cái đẹp nào là chuẩn mực thẩm mỹ cho cái đẹp nào, chỉ biết cả hai cùng rất đẹp, ánh xạ vào nhau, nâng đỡ nhau.

Sự hài hòa, thống nhất đến tuyệt đối giữa thiên nhiên và con người được miêu tả một cách hóm hỉnh tạo nên một “đặc sản” nghệ thuật riêng của thơ Hồng Đức: “Lều tiện ba gian trải nắng sương/ Thấy trời dòm xuống biết trời thương/ Dồi dào đã được nhờ ơn nước/ Soi tới càng thêm tỏ bóng gương/ Đêm có ả trăng làm bạn cũ/ Ngày thì dì gió quét bên giường/ Lại còn một vẻ thanh quang nữa/ Ngọc lộ đầy mâm để uống thường” (Nhà dột). 

Câu đầu tả thực. Các câu sau tả cách điệu: nhà dột đến mức thủng thành khe, thành lỗ, ánh sáng chiếu vào thì lại coi đấy là “trời dòm”, “trời thương”; nước mưa chảy xuống thì coi là “ơn nước”… “Ngọc lộ” là giọt sương, theo quan niệm xưa, sương rất quý, là tinh hoa của trời đất, có tích vua Vũ nhà Hán dựng đền tạc tượng người tiên tay bưng mâm hứng sương để hòa với tinh hạt ngọc mà uống mong được trường sinh. Vậy mà (nay) nhờ nhà dột nên sương xuống đầy mâm, tha hồ... uống! Như thế thì thực là còn giàu sang, phú quý hơn cả vua Hán. Bài thơ là cái nhìn ngộ nghĩnh, vui hóm, lạc quan hiếm gặp trong thơ trung đại. 

“Hồng Đức quốc âm” là thế giới về loài vật và sự vật rất đỗi thân quen. Điều này cho thấy các tác giả phải rất bình dân, gần cuộc sống, hiểu cuộc sống thường ngày. Về loài vật, các con vật được miêu tả là con rận, con kiến, con cóc, con muỗi, con gà… Về sự vật, là cái nón, cái quạt, cái ấm, cái đó, cái cối xay, cái diều, nhà dột, cây chuối, quả dưa, cây tre, cây me, rau cải, khoai, bếp, cái rế, ông đầu rau… Có nghĩa là những đề tài có trong cuộc sống dân dã, tầm thường nhất. 

Ở đây nên đặt một đối sánh, khi mà “Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp/ Mây, gió, trăng, hoa, tuyết núi, sông” mà thơ thời Hồng Đức cách nay gần 600 năm đi vào những đề tài giản dị ấy càng cho thấy đó là một cuộc cách mạng thực sự về đối tượng miêu tả.

Sự vật rất sinh động nhờ dùng tính từ cực tả: “Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi/ Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè” (Lại vịnh nắng hè 3). Câu đầu rõ ra cái không khí ngày hè nước nóng đến mức cá rô phải “trỗi” lên trên mặt nước. Nhờ khai thác nhấn vào những nét mang tính đặc trưng riêng biệt, ngộ nghĩnh mà sự vật sống động hẳn lên: “Bẻo lẻo đầu ghềnh con bố cốc/ Lênh đênh mặt nước cái đè he” (Nắng hè). “Bố cốc” tức chim tu hú thường kêu vào đầu hè để nhắc người dân cấy lúa (bố cốc). “Cái đè he” tức cá he mình to, dài, đầu giống đầu lợn, sống ở biển, mùa hè thường nổi từng đàn.

Nhờ có sự tri âm, thấu hiểu đối tượng miêu tả nên người đọc như thấy được tình người trong thơ. Phải có một tình thương mới nhìn thấy, nghe thấy và có cách dùng những tính từ này: “Đậu lá võ vàng con bướm bướm/ Ấp cây gầy guộc cái ve ve” (Lại vịnh nắng hè 1). Câu thơ được đảo trang để nhấn mạnh trạng thái: “Khắc khoải đã đau lòng cái cuốc/ Băn khoăn thêm tức ngực con ve” (Lại vịnh nắng hè 2). Người đọc không chỉ cảm thấy con cuốc khắc khoải, con ve băn khoăn mà cả chủ thể nhà thơ cũng băn khoăn khắc khoải!

Văn chương chỉ có thể sống mãi khi nó trở thành mẫu số chung của cộng đồng. “Hồng Đức quốc âm” xứng đáng được như thế!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).