Hoa gạo nở đỏ miền tâm linh!

Ở các làng quê xưa thường trồng cả hai loại hoa gạo tẻ bông to, màu đỏ phơn phớt vàng, cánh thẳng. Hoa gạo nếp bông nhỏ, đỏ tươi, cánh cong ưỡn về phía đài hoa. Hoa gạo là một tín hiệu thẩm mỹ cho nhịp đi của mùa màng thôn quê: "Bao giờ đom đóm bay ra/ Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng".

Sách "Thiền uyển tập anh" kể, khi biết Cao Biền dùng phép thuật "cắt đứt long mạch" ở sông Điềm, Thiền sư La Quý (tu ở chùa Song Lâm), trước khi mất (936) dặn đệ tử về âm mưu thâm hiểm của tên giặc cáo già tìm cách "trấn yểm" không cho đất Cổ Pháp "phát vương". Dặn rằng: "Ở chùa Châu Minh ta đã trồng một cây bông gạo... Sau khi ta tịch, con khéo đắp một ngọn tháp bằng đất, dùng phép, yểm dấu trong đó...". Sư tịch, thọ tám mươi lăm tuổi, nhằm niên hiệu Thanh Thái thứ ba nhà Hậu Đường (936).

Vẫn trong "Thiền uyển tập anh", trước khi mất Thiền sư La Quý có làm một bài kệ: "Đại sơn long đầu khỉ/ Cù vĩ ẩn Châu Minh/ Thập bát tử định thiền/ Miên thọ hiện long hình/ Thổ kê thử nguyệt nội/ Định kiên nhật xuất thanh" (Đại sơn đầu rồng ngửng/ Đuôi Cù ẩn Châu Minh/ Thập bát tử định thành/ Bông gạo hiện long hình/ Thỏ gà trong tháng chuột/ Nhất định thấy trời lên). Theo chiết tự chữ Hán, ba chữ "thập", "bát", "tử" (thập bát tử) kết hợp với nhau tạo thành chữ "lý" (chỉ họ Lý). "Thỏ gà trong tháng chuột" ý nói có vị vua lên ngôi vào tháng Chuột (tháng 11) năm gà (tức năm Dậu 1009). Hoàn toàn đúng với việc vị vua họ Lý lên ngôi vua vào tháng 11 năm 1009, tức vua Lý Công Uẩn.

image001.jpg -0
Hoa gạo.

Một số sách khác cũng chép Thiền sư La Quý có công lớn khi tự tay trồng cây gạo (mộc miên) để trấn chỗ "long mạch" bị cắt đứt. Sách "Đại Việt sử ký" còn cụ thể hơn, chép rằng nhờ cây gạo Thiền sư trồng trước chùa Minh Châu đã nối lại "long mạch" để có phong thủy tốt, tạo cảnh quan đẹp, khơi mở dương khí, ngăn trừ tà khí. Như vậy phải chăng câu chuyện cũng là một minh họa cho câu: "Thần cây đa, ma cây gạo". "Ma" ở đây hiểu theo nghĩa rộng, còn là "thần thánh"?

Là loài cây sống vùng nhiệt đới, thân gỗ, dáng thẳng, cao khoảng 15 - 20 m, vỏ lớp ngoài sần sùi, màu xám nâu có gai bảo vệ, mùa đông lá rụng. Xuân đến hoa đỏ 5 cánh, đài dày ôm khít cánh hoa rực rỡ. Quả nhỏ chứa các sợi như sợi bông. Tán cây xòe từng tầng tạo bóng mát thường được trồng bên mái chùa, đình làng, đường cái quan… Ở các làng quê xưa thường trồng cả hai loại hoa gạo tẻ bông to, màu đỏ phơn phớt vàng, cánh thẳng. Hoa gạo nếp bông nhỏ, đỏ tươi, cánh cong ưỡn về phía đài hoa. Hoa gạo là một tín hiệu thẩm mỹ cho nhịp đi của mùa màng thôn quê: "Bao giờ đom đóm bay ra/ Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng".

Có tên gọi khác là mộc miên hoặc hồng miên, nhiều thuyết nói nguồn gốc Ấn Độ nhưng tìm trong kho tàng văn hóa xứ Ấn, hình tượng cây gạo không có gì đặc sắc so với nhiều cây khác. Ngày nay, cây được trồng nhiều ở Indonesia, Trung Quốc, Đài Loan... Ở nước ta, cây hầu như có ở mọi làng quê, thân thuộc như cây đa, giếng nước, sân đình…, mang tính biểu tượng cho đời sống tinh thần, đặc biệt là đời sống tâm linh. Chung quanh hình tượng được thêu dệt nhiều truyền thuyết, tục ngữ, ca dao. Nhiều đến mức, hầu như vùng nào cũng có truyền thuyết riêng, phần nhiều mang tính "liêu trai", rùng rợn. Đến nỗi, ngày xưa, ở làng quê trẻ con rất sợ một mình đi qua cây gạo, bởi cứ bị ám ảnh những câu chuyện của người lớn về ma đói, về ma cô gái treo cổ tự vẫn vì thất tình… Nhưng có hai môtip với cái lõi là "mẫu số chung".

Một nói về tình yêu, kể rằng, hoa gạo là hóa thân của một người con gái chờ đợi người yêu. Ở bản nọ có chàng trai nghèo tốt bụng khỏe mạnh, yêu cô sơn nữ duyên dáng, xinh đẹp. Đám cưới đã chuẩn bị chu đáo thì trời mưa, cơn lũ lớn cuốn phăng tất cả. Dân bản bàn nhau trồng cây nêu để chàng trai lên trời hỏi cho rõ sự tình. Ngày đi, chàng buộc vào tay người yêu băng vải đỏ, mỗi đầu có tua năm cánh, hẹn ngày trở về. Lên trời, Ngọc Hoàng bèn giữ chàng trai lại làm Thần mưa. Dưới trần gian cô gái cứ khắc khoải chờ…

Hầu như các truyện đều giữ cái lõi "cây nêu", tức cây gạo - một biến thể của "cây nêu" gắn liền với tích người chống lại quỷ. Ngày xưa quỷ chiếm hết đất đai của người. Được Phật mách, người trồng cây tre, Phật hóa phép cho cây tre cao lên tận trời, chiếc áo cà sa trên ngọn cây mở ra che khắp mặt đất đuổi quỷ ra biển. Nhưng quỷ vẫn lăm le chiếm lại. Từ đó người dân dựng cây nêu trước nhà để ma quỷ không quấy nhiễu. Chiểu theo ý này, thì cây gạo có chức năng đuổi đi điều dữ (ma quỷ), đem lại điều may.

Xét về nội dung câu chuyện, cây gạo là biểu tượng cho tình yêu không thành. Hoa gạo cứ tức tưởi rụng mà vẫn không đổi màu đỏ tươi, như tấm lòng cô gái nọ đau đáu chờ đợi… Phải chăng từ ý này mà huyền thoại hay ly kỳ kể có những hồn ma cô gái tự vẫn do bị phụ bạc, đành lấy gốc gạo làm "nhà"… Thương tình, dân gian lập bát hương… Ngày xưa chưa có điện, ngày rằm mồng một, ban đêm, tối trời từ xa nhìn về gốc gạo cứ thấy những đốm lửa đỏ bập bùng, nhảy nhót... Có cho kẹo, trẻ con cũng không dám qua!

Loại truyện thứ hai nói về tinh thần giữ nước. Kể rằng có người họa sĩ tài năng vẽ rất đúng những hình ảnh mà người khác nghĩ tới. Chuyện tới tai vua, vua thử ba người đóng giả mình, anh đều vẽ đúng suy nghĩ người đó. Đến lượt vua, anh vẽ ngôi đền đỏ... Quý mến một tài năng, vua gả con gái cho họa sĩ và truyền xây dựng ngôi đền. Giặc giã tràn sang phá tan ngôi đền, nhưng từ nền cũ mọc lên một cây cao, to, rất thẳng, hoa nở đỏ rực cả góc trời. Người dân gọi là cây gạo. Quân giặc nhìn thấy rụng rời. Quân ta nhìn thấy như tiếp thêm sức mạnh. Giặc rút. Những cây gạo trở thành cột mốc biên cương giữ bình yên Tổ quốc…

Thực chất, truyện này do nhà thơ Phạm Hổ viết, đi vào đời sống, phù hợp với tâm thức cộng đồng, được "dân gian hóa" thành cổ tích. Tại sao lại là "ngôi đền đỏ"? Vì vua nghĩ đến cần có ngôi đền xứng đáng để tôn thờ những anh hùng xả thân chống giặc. Đây là ông vua tốt, thấu hiểu lòng người, thấu cảm tình người, có trách nhiệm cao với đất nước, có đạo lý biết ơn… Hiểu theo nội dung này, cây gạo là biến thể của ngôi đền thờ anh linh những người có công với nước. Ai đã từng lên biên giới phía Bắc sẽ thấy những hàng mộc miên tháng ba đỏ rực, càng thấy dân gian gửi gắm ý nghĩa sâu sắc biết bao: đó là những hàng cột mốc - những anh linh vì Tổ quốc. Càng thương nước nhiều giặc giã, càng cảm phục tâm hồn vị tha người Việt!

Thời Pháp, Văn Miếu được gọi là "đền quạ" (Le temple des corbeaux). Vì trên những cây gạo ở đó có nhiều quạ làm tổ. Thực ra, ở mọi nơi, quạ đều thích làm tổ trên cây gạo. Gốc gạo có nhiều vấu to nổi thành u, tạo nhiều hốc, gợi về những điều bí hiểm. Cho rằng đó là nơi hồn ma trú ngụ, người lập bát hương. Nhá nhem tối, trên cây, quạ hoang hoải kêu, dưới gốc, hương bập bùng, thấp thoáng đỏ… Đã thế còn được trồng ở gần đền chùa. Có cây ở giữa đồng, gần nghĩa trang…

image004.jpg -1
Cây gạo đồng quê.

Ở Tây Nguyên, có nơi có hủ tục cô gái nào ngoại tình sẽ bị trói vào cây pơ lang (cây gạo), bị đánh roi, để gai gạo đâm vào thịt da, cơ bản hơn, để báo cáo với ma (dưới đất), với Giàng (trên trời). Ở lễ đâm trâu, ngoài việc chôn cây nêu - cây thế giới nối trần gian với thiên giới, còn trồng một cây gạo… Linh hồn ma trâu sẽ theo cây gạo lên báo với Giàng...  Với người Kinh, câu "Thần cây đa, ma cây gạo", "ma" ở đây còn là ma đói, tức các cô hồn chết đói chết khát không được thờ cúng nên thường tìm đến mong kiếm miếng ăn. Vì cây gạo đồng âm với từ "gạo"… Thật sâu thẳm một tinh thần nhân văn đáng quý!

Thân to, gỗ mềm, nên thường dùng cho nghề khắc dấu, khắc tranh gỗ, bền, nét và mịn. Đóng góp chủ yếu về phương diện văn hóa tinh thần, cây gạo đi vào văn chương nghệ thuật nở ra những bông gạo đỏ rực xao xuyến, như những câu thơ gan ruột của Đoàn Thị Tảo: "Thế là chị ơi/ Rụng bông gạo đỏ/ Ô hay, trời không nín gió/ Cho ngày chị sinh" (Cho một ngày sinh); hay hiên ngang trầm hùng mang âm hưởng bi ca trong thơ Nguyễn Linh Khiếu: "có ai trồng mộc miên biên giới/ hay biên cương cây tìm đến mọc lên/ hoa cứ máu tươi suốt ngàn năm tê tái/ cây cứ sừng sững mướt xanh cột mốc biên cương" (Hoa mộc miên biên giới)…

Vùng đất thơ mộng tả ngạn sông Lam (Tam Sơn - Anh Sơn - Nghệ An) đã từng tổ chức Lễ hội Hoa gạo. Hình sông thế núi hữu tình. Cữ giữa xuân, hàng chục, hàng trăm cây gạo cổ thụ nở hoa rực rỡ cả khoảng trời thanh bình, yên ả. Sắc đỏ đến nôn nao, khắc khoải. Lòng người xôn xao chộn rộn: "Em như hoa gạo trên cây/ Anh như một đám cỏ may bên đường/ Lạy giời cho cả gió sương/ Hoa gạo rụng xuống, lại luồn cỏ may" (Ca dao)…!!!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).