Hoa đào - Nét mỹ học phương Đông!

Được bao phủ bởi một màn sương lãng mạn của truyền thuyết nên cổ mẫu luôn mời gọi sự khám phá. Vốn đã đẹp bởi sắc màu vương giả, lại nở vào mùa xuân quyến rũ, được xếp vào hàng “đệ nhất hoa” và gắn cho những phẩm chất cao quý của bậc quân tử, nên cổ mẫu hoa đào có rất nhiều lớp vỏ huyền thoại mà bóc mãi vẫn chưa thấy cái lõi sự thật.

Thân cành thanh mảnh, chúm chím nụ rồi hoa nở rực rỡ, hương tỏa thanh tao… một mình hoa đào đủ tạo nên một nét riêng của mỹ học phương Đông.

Truyền thuyết “Đào nguyên” của Trung Hoa kể, ông lão đất Vũ Lăng tình cờ thấy một cánh hoa rất đẹp từ thượng nguồn trôi về. Ngược dòng, ông tìm thấy một rừng đào dọc theo một triền suối, cảnh như cõi tiên, con người cũng đẹp như tiên… Như bị mê dụ, ông bèn trở về rồi quyết đến đó sống chứ không muốn ở chốn cũ phàm trần. Nhưng khi quay lại, tìm mãi, tìm mãi mà không thấy cảnh đẹp ấy đâu nữa. Ông đau khổ, tiếc nuối…

Tất nhiên là huyền thoại nhưng lại nói lên một sự thật: cái đẹp đích thực luôn hấp dẫn con người. Con người sẵn sàng đánh đổi tất cả để hưởng thụ cái đẹp. Cái đẹp lý tưởng là ở trong khát vọng chứ không có ngoài thực tế. Cũng như tình yêu vậy, cái đẹp không tìm thấy mới là cái đẹp vĩnh cửu nhất để mà mơ mộng. Chứ mà được sở hữu, thì… hết thi vị!!!

image001.jpg -0
Hoa đào xứ Việt!

Khởi thủy, người Trung Quốc cổ quan niệm hoa đào là thứ vật quý. Huyền thoại kể vườn đào của Tây Vương Mẫu 3000 năm mới cho quả một lần, ai được ăn sẽ trường sinh bất tử. Thế nên ở bức tượng tam đa (Phúc - Lộc - Thọ) thì ông Thọ luôn cầm trái đào. Lại có tranh tả thằng bé mũm mĩm ôm trái đào tiên tặng ông lão tức là chúc trường thọ. “Kinh thi” có câu: “Đào chi yêu yêu/ Chước chước kì hoa/ Chi tử vu qui/ Nghi kì thất gia” (Nõn nà đào tơ/ Xinh xắn nở hoa/ Nàng ta lấy chồng/ Cửa nhà ấm êm) thì cây đào là biểu trưng cho hạnh phúc với cảnh thiếu nữ lấy chồng.

Đào còn làm ẩn dụ cho người tài. Địch Nhân Kiệt, tể tướng đời Đường, thu dụng được nhiều nhân tài, người đời khen: “Cây đào, cây lí trong nước ở cả trong cửa tướng công”. Trong “Tam quốc diễn nghĩa” được cấp thêm nghĩa, đào vừa quý vừa cứng cỏi nghĩa khí, thế nên La Quán Trung mới cho ba anh em Lưu - Quan - Trương “kết nghĩa vườn đào”. Trong tín ngưỡng thờ cúng, bói toán, người ta dùng gỗ cây đào khắc thành những hình nhân treo trên cửa ra vào để đuổi tà ma, làm thân cây bút bằng gỗ đào sẽ viết nên những tiên đoán đúng về tương lai…

Cũng ở xứ Trung Hoa, câu chuyện “Lưu - Nguyễn nhập thiên thai” kể hai chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu đi hái thuốc lạc vào động tiên. Cảnh đẹp vô cùng lại có hai cô tiên tự nguyện làm vợ… Nhưng chỉ được nửa năm hai chàng cũng chán liền xin phép người tiên mà trở về… Những hạt cổ mẫu này rơi vào văn chương bác học nở ra những hình tượng thẩm mỹ mới bắc một cái cầu kiều nối hai bờ quá khứ và hiện tại, mà hôm nay, nếu có ai bước lên cầu đó, hầu hết đều muốn sang bờ quá khứ để được gặp tiên.

Rất nhiều nhà thơ Đường Tống đều có thơ về hoa đào viết theo lối cổ tích hóa. Câu chuyện nổi tiếng về Thôi Hộ kể nhân hội Đạp Thanh, nhà thơ đi ngao du sơn thuỷ, lạc bước đến “Đào Hoa thôn” gõ cửa xin nước uống thì được gặp một thiếu nữ. Vẻ đẹp đồng quê tinh khôi của nàng làm Thôi Hộ vừa uống nước cũng là uống luôn nhan sắc và tâm hồn thơ ngây trinh nữ. Năm sau, chàng quay lại xin cưới nàng. Nhưng chỉ còn những cây đào đang kỳ rực rỡ như cười đùa trêu ngươi... Thế là một kiệt tác của nhân loại ra đời có tên “Đề Đô thành Nam trang”: “Khứ niên, kim nhật, thử môn trung/ Nhân diện, đào hoa tương ánh hồng/ Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong” (Năm ngoái, hôm nay, trước cổng này/ Mặt người và hoa đào ánh lẫn nhau/ Giờ đây, mặt người không biết đã đi đâu/ Chỉ còn hoa đào cười gió Đông cũ).

Truyền thuyết xứ Việt ta kể, ngày xưa, phía Đông núi Sóc Sơn có một cây hoa đào cành lá sum suê, to lớn khác thường, bóng che phủ cả một vùng rộng. Có hai vị thần trú ngụ ở trên cây luôn mang điềm lành, may mắn, giúp đỡ dân lành. Lũ ma quỷ rất sợ uy linh hai vị thần, đến mức sợ luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành đào là bỏ chạy.

Ngày cuối năm năm ấy hai thần lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng. Mấy ngày Tết, vắng mặt các thần, lũ ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái. Dân chúng đành bẻ cành hoa đào về cắm trong lọ, ai không có cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình hai vị thần dán ở cột trước nhà để xua đuổi tà ma. Từ đó, thành lệ cứ mỗi dịp Tết đến, mọi nhà đều mua cành hoa đào... Thì ra, với người Việt, hoa đào là để cầu mong bình an, sau đó mới là trang trí, làm đẹp. Thương đất nước mình nhiều giặc giã, thiên tai, điều quý trước hết là sự thanh bình, yên ổn!

image003.jpg -1
Hoa anh đào Nhật Bản!

Trong thơ Nguyễn Trãi,hoa đào là mùa xuân mới mẻ, phong nhiêu: “Một đóa đào yêu khéo tốt tươi/ Cách xuân mơn mởn thấy xuân cười”. Nguyễn Bỉnh Khiêm ngạc nhiên trước vẻ đẹp mà băn khoăn về nguồn gốc đào hoa: “Tiên thụ thuỳ tương quán lý tài/ Hảo xuân nhất độ hảo hoa khai” (Cây tiên bên quán bởi ai trồng/ Mỗi độ xuân về rực rỡ bông).

Trong “Truyện Kiều” dù mượn điển tích bên Tàu hay tả cảnh tả tình gì vẫn thấy sâu thẳm trong thơ nhà nhân văn chủ nghĩa Nguyễn Du một khao khát cho cô Kiều và thân phận người phụ nữ nói chung một điều bình an, bớt sóng gió. Nhà thơ luôn để cô Kiều khi thì rực rỡ nồng nàn khi thì xót xa đau buồn… dưới bóng cây đào.

Kim Trọng ngắm Kiều cũng dưới bóng cây đào: “Cách tường phải buổi êm trời/ Dưới đào dường có bóng người thướt tha”. Chiếc kim thoa của nàng cũng được “đạo diễn” Nguyễn Du đặt trên cành đào: “Lần theo tường gấm dạo quanh/ Trên đào nhác thấy một cành kim thoa”. Cây đào làm chứng nhân cho mối tình chớm nụ: “Dưới hoa sẽ dặng tiếng vàng/ Cách hoa đã thấy có chàng đứng trông”. Sau này cảnh ngộ và tâm trạng Kim Trọng đau buồn, tê buốt, bẽ bàng cũng dưới bóng đào: “Trước sau nào thấy bóng người/ Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Có 23 câu thơ “Kiều” lấp ló hình tượng hoa đào, với “đào tiên”, “đào nguyên”, “đào tơ”, “đào non, “đào phai”, “đào lý; “má đào”, lại có cả “buồng đào”…

Người Nhật lấy hoa anh đào làm quốc hoa vì cho rằng hoa ấy tượng trưng cho mùa xuân, cái đẹp, sự viên mãn, hạnh phúc... Người Nhật quý hoa đào đến mức coi đó không chỉ là chuẩn mực thẩm mỹ, còn là chuẩn mực của lẽ sống: “Là hoa thì hãy là hoa đào, là người thì hãy là Samurai”.

Truyền thuyết Nhật kể, một lần chàng trai trẻ đi ngang qua sông Sumida ở Tokyo gặp một cô gái xinh đẹp đang đứng trên một chiếc thuyền. Đó là một nàng tiên Konohana-Sakuya-Hime, hiện thân của hoa anh đào. Họ trở thành bạn bè và cùng nhau đi tới một ngọn núi cao. Đến nơi, nàng tiên yêu cầu chàng trai chặt hạ cây tuyết tùng. Khi đốn cây, chàng phát hiện ra bên trong cây đó là một cây anh đào tuyệt vời diễm lệ, tràn đầy sức sống… Từ đó cây anh đào đi vào văn hóa Nhật biểu tượng cho cái đẹp, sự tươi vui, điềm lành, sự phục sinh... Theo thời gian, dòng phù sa văn hóa Samurai Nhật còn bồi đắp thêm nghĩa biểu tượng cho sự đổi mới, sự độc lập, thích nghi hoàn cảnh.

Không chỉ là một nguồn mạch văn hóa của dân tộc Nhật (với Lễ hội hoa anh đào - gọi là Hanami, thành kính, thiêng liêng), còn là cảm hứng thẩm mỹ cho văn học, rõ nhất là trong thể thơ haikư truyền thống: “Một cành đào đơn sơ/ Một buổi sáng đẹp trời/ Trang điểm một hồ sâu” (Buson). Chỉ một cành đào nhỏ, đơn sơ nhưng đúng thời điểm (buổi sáng), đúng không gian (đẹp trời) có thể làm đẹp cả những thứ gì vốn thăm thẳm u tối, u buồn nhất (hồ sâu). Nhà thơ Basho còn nâng hoa đào lên thành Phật, đem cái đẹp, cái thanh tao “cứu độ chúng sinh”: “Trước cành hoa đào/ Rộ đời hương sắc/ Nam mô hoa đào”…

Cuối bài viết, xin mời bạn đọc nghe bài hát “Ai lên xứ hoa đào” nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Nguyên: “Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi/ Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi/ Thông reo bên suối vắng, lời dìu dặt như tiếng tơ/ Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ”. Bài hát viết năm 1960 nhưng có cảm giác nó “phi thời gian” như cổ tích. Người Nhật, người Trung Quốc lên Đà Lạt ngắm hoa đào, chỉ nghe giai điệu bài hát cũng có cảm nhận nó “phi không gian” vì Đà Lạt chẳng khác gì xứ đào nguyên trong truyền thuyết Trung Hoa, Nhật Bản. Nhờ men theo lối cổ tích hóa nên hoa đào đã nở hoa trong lòng người chăng!?

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).