Hình tượng "tuyết" trong văn học trung đại - ước lệ hay thực tế?

Những ngày đầu năm 2018 nhiều đợt rét dồn dập đến với miền Bắc nước ta, có nơi ở miền núi nhiệt độ về đêm xuống tới -5 độ C, tuyết rơi nhiều ở Sa Pa (Lào Cai), Mẫu Sơn (Lạng Sơn), băng giá xuất hiện ở Ba Vì (Hà Nội)… Tình trạng như thế không hề hiếm hoi mà thường xuất hiện ở miền Bắc vài năm trước đó…

Theo quy luật thì trái đất ngày một nóng lên, vì con người ngày một đông hơn, khí thải công nghiệp ngày một nhiều hơn… Một trăm năm trước ở miền Bắc chắc còn nhiều cảnh tuyết rơi như Sa Pa, Mẫu Sơn hơn hôm nay? Năm, sáu trăm năm trước, cảnh tuyết rơi vào mùa đông chắc nhiều và dài ngày hơn, dữ dội và khốc liệt hơn hôm nay? Và rất có thể đẹp hơn, thi vị hơn hôm nay!

Qua bài viết này chúng tôi xin thử phản biện một quan niệm đã "ổn định" từ rất lâu: hình tượng "tuyết" trong thơ văn thời trung đại chỉ là ước lệ chứ không phải nghĩa đen, nghĩa thực tế. Cái lý do rất đơn giản vì cho rằng nước ta xứ nóng thì không có tuyết nên hình tượng này có trong văn học chỉ là ước lệ, là sự ảnh hưởng của văn học cổ điển Trung Quốc. Như vậy liệu có vô tình đã coi nhẹ sự sáng tạo thẩm mỹ của văn hóa Việt Nam!?

Xin trích lại một chi tiết về "tuyết" trong "Truyền kỳ mạn lục" (NXB Trẻ 2013, tr 206) của Nguyễn Dữ: "Năm Bính Dần (1386), vua Trần Phế Đế đi săn đỗ lại trên bờ bắc sông Đà, đêm mở tiệc ở trong trướng. Có một con cáo từ dưới chân núi đi về phía Nam, gặp một con vượn già, nhân bảo: "Vua tôi Xương phù (niên hiệu của vua Trần Phế Đế) vào rừng săn bắn, để ý vào bọn ta lắm… Nếu tuyết chưa xuống, gió chậm về, mình sẽ nguy mất" (Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang). Chi tiết "tuyết chưa xuống" nên hiểu được dùng theo nghĩa đen, có thật trong tập truyện văn xuôi giàu tinh thần tả thực này?

Tuyết rơi dày ở Sa Pa.
Tuyết rơi dày ở Sa Pa.

"Tuyết" có nhiều nhất trong thơ Nguyễn Trãi. Chúng ta đã quen thuộc với bài Tùng: "Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày/ Có thuốc trường sinh càng khỏe thay/ Hổ phách phục linh nhìn mới biết/ Dành còn để trợ dân này". "Tuyết sương" ở đây được dùng theo nghĩa bóng chỉ sự gian khó, vất vả, có thể hiểu là con người phải từng trải vốn sống, phải giàu trải nghiệm, kinh qua khó khăn, có tài năng đặc biệt để là thứ "thuốc trường sinh" tinh thần để "trợ dân".

Nhưng ở các câu như "Ngắm xem mai hay tuyết đến/ Say thưởng nguyệt lệ thu qua" (Bảo kính cảnh giới, Thơ Nôm) thì "tuyết" thiên về tả thực. "Lệ" nghĩa là sợ, ý nói thưởng thức cái đẹp phải biết sợ cái đẹp sẽ qua. Thơ Nguyễn Trãi rất nhạy cảm, cái nhạy cảm của người nghệ sỹ trân trọng tiếc thương vẻ đẹp vốn mong manh dễ vỡ: "Hé cửa đêm chờ hương quế lọt/ Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan" (Bảo kính cảnh giới, Thơ Nôm). Hình tượng "tuyết" trong thơ ông cũng là một cách để biểu hiện cái đẹp mong manh ấy!

Qua hình tượng hoa cúc Nguyễn Trãi ca ngợi và khẳng định chỉ nét riêng mới có thể trở thành giá trị: "Người đua nhan sắc thuở xuân dương/ Nghỉ chờ thu cực lạ dường/ Hoa nhẫn rằng đeo danh ẩn dật/ Thức còn thông bạn khách văn chương/ Tính thanh nào đoái bề ong bướm/ Tiết muộn chẳng nài thuở tuyết sương/ Dầu thấy xuân lan cùng lọn được/ Ai ai đều có mấy mùi hương" (Cúc, Thơ Nôm).

"Tiết muộn chẳng nài thuở tuyết sương" có nghĩa hoa cúc chẳng đợi đến khi có tuyết sương mới nở. Các loài hoa khác đua nhau nở khi mùa xuân, nhưng cúc "cực lạ", nở vào mùa thu. Nó đành chịu (nhẫn) tiếng ẩn dật, nhưng đủ (thông) tư cách làm bạn với khách văn chương ở "tính thanh", ở sự từng trải. Nếu mùa xuân có hoa lan thì mùa thu có hoa cúc sẽ cho con người được thưởng thức nhiều mùi hương  khác nhau, ở các thời điểm khác nhau. "Tuyết sương" ở đây vừa có nghĩa thực vừa có nghĩa bóng chỉ thời gian (thời điểm), không gian (mùa).

Có lẽ không nên căn cứ vào ngày nay ít hoặc không có để nói thời ấy xứ ta không có tuyết. Điều này Nguyễn Trãi đã có triết lý tuyệt vời về quan hệ các thời điểm như nhắn nhủ với hậu thế: "Mạc tương tiền thế phan kim đại - Chớ lấy việc đời trước mà vin vào đời nay" (Hạ tiệp. Thơ chữ Hán). Ta cũng có thể hiểu: Chớ lấy việc đời nay mà vin vào đời trước. Ngày nay hay nói xem xét vấn đề phải đứng trên quan điểm lịch sử cụ thể thì Nguyễn Trãi nói ngắn gọn mà rõ ràng, trước 600 năm!

Trong "Hồng Đức quốc âm thi tập" thì trong các bài "Vịnh cảnh mùa đông" đều có hình tượng "tuyết" theo nghĩa tả thực: "Song mai nguyệt tỏ thanh bằng nước/ Cửa trúc sương xâm lạnh nữa đồng/ Điểm tuyết nào non đầu chẳng bạc/ Hóng lò có khách mặt thêm hồng". "Nữa" tiếng cổ nghĩa hơn, "Cửa trúc sương xâm lạnh nữa đồng", sương xuống cửa trúc lạnh hơn đồng. Nhìn xa đỉnh núi thấy tuyết phủ trắng (Điểm tuyết nào non đầu chẳng bạc). "Hóng" tiếng cổ nghĩa đón.

Và: "Canh chầy ngọc lậu trong băng tuyết/ Đêm lọt lưu tô lạnh nữa đồng" (Lại vịnh cảnh mùa đông). "Ngọc lậu" là cái đồng hồ nước ngày xưa, câu đầu ý nói đồng hồ "nhỏ nước" suốt đêm trong băng tuyết. "Lưu tô" là màn dệt (một kiểu màn gió), cái lạnh hơn đồng lọt qua màn (gió)!

Trong chùm bài "Vịnh năm trống canh mùa đông" thì ở canh ba có hình tượng "tuyết" theo phép tả thực: "Đêm chia nửa khéo hay là/ Giữa giáp canh, ban trống ba/ Đường quạnh phất phơ cây ngất gió/ Trên không lác đác tuyết bay hoa" (Tam canh). Trong chùm Thơ vịnh mười hai tháng thì ở bài "Tháng Mười" đã có "tuyết": "Quỳnh lựu ngàn hàng hoa tuyết đượm/ Dao trì mấy chốn thụy tương nhuần". "Thụy" nghĩa là điềm tốt lành, "tương" nghĩa nước đông lại.

Tuyết rơi trắng xóa ở Lào Cai.
Tuyết rơi trắng xóa ở Lào Cai.

"Thụy tương" còn gọi thụy tuyết, tuyết xuống làm chết sâu bọ thì có lợi cho mùa màng, tức "tuyết" là điềm lành của nhà nông. Ở bài này "tuyết" lại thiên về ước lệ vì mới "tháng mười" mà đã có tuyết (trong khi ở hai bài vịnh tháng mười một và mười hai lại không có "tuyết"). Có lẽ nên hiểu vì tháng mười đầu đông mà đã có tuyết thì sẽ ít sâu bọ, mùa màng sẽ bội thu. Cách hiểu này có thể phù hợp hơn với chủ đề ca ngợi phong cảnh thanh bình, ấm áp của tập thơ.

Với quan niệm quý mến, kính trọng con người, "Hồng Đức quốc âm" có những câu miêu tả con người thật sang trọng, vương giả: "Sớm chốn giang hồ tối nguyệt đài/ Tay giũ tơ vàng, ngờ ấy chiếu/ Lưng đeo tuyết trắng ngỡ rằng đai" (Lại vịnh thuyền người đánh cá). Gọi "Nguyệt đài" vì cái thuyền chài có trăng chiếu vào, tức ví thuyền như lâu đài nhà quyền quý.

"Tơ vàng" là lưới hoặc dây câu có thể màu vàng có thể được chiếu vàng dưới trăng. "Chiếu" ở đây là chiếu thư của vua (màu vàng). Chắc chắn bài vịnh này của Vua Lê Thánh Tông, vì người khác là không thể bởi đã "phạm thượng" khi ví lưới thuyền chài với chiếu vua. Ông chài lại có "đai" để thắt triều phục. Ngày ấy đai quan to thì được nạm bằng bạc, nghĩa là ông chài được tả như quan to. Tuyết trắng bám vào thắt lưng trông như "đai" vậy! "Tuyết trắng" là hình ảnh tả thực?!

Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, "tuyết" còn được miêu tả cụ thể, sống động hơn. Hoa tuyết cứ như bay trước mắt người đọc trong một đêm giá: "Khinh ư liễu nhứ, bạch ư mai/ Lục xuất hoa tùy khoảnh khắc khai/ Tá nguyệt định vi ngân thế giới/ Nhân phong phi táp ngọc lâu đài - Nhẹ hơn bông tơ liễu, trắng hơn hoa mai/ Hoa sáu cánh trong khoảnh khắc nở tung bay/ Nhờ ánh trăng rải tỏa khắp cõi thế từng lớp bạc trắng/ Có gió đưa, bay vây kín các lâu đài ngọc" (Tuyết hoa thi).

Ở đây là sự hòa hợp hô ứng tương giao các hình tượng: ánh trăng chiếu vào tuyết trắng càng làm tuyết lấp lánh như bạc; gió đưa tuyết bay làm lâu đài trắng lên như ngọc. "Thi trung hữu họa" là được "vẽ" bằng những câu thơ này!? Không trực tiếp thưởng ngắm cảnh vật khó có những câu thơ nói được thần thái cảnh vật như vậy!

Sau Nguyễn Bỉnh Khiêm thì hình tượng "tuyết" gần như không có trong thơ văn nữa, mặc dù hệ hình thi pháp ước lệ trung đại vẫn còn nặng nề kéo dài. Phải chăng có một lý do là trong thực tế đã không còn tuyết nữa?!

Có thể dẫn chứng và lập luận của chúng tôi chưa đủ sức thuyết phục, thiển nghĩ cũng là sự đặt ra một vấn đề đáng suy nghĩ và bàn luận!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).