Hình tượng trang trí tứ linh trên đồ thờ bằng đồng ở làng Đại Bái

Hình tượng trang trí là sự khái quát hiện thực hoa lá, động vật, cây cối... bằng ngôn ngữ của nghệ thuật, sự khái quát, đơn giản về đường nét, hình khối, màu sắc. Điển hình là hình tượng trang trí Rồng, Phượng trên đỉnh đồng, mâm bồng... tạo nên hiệu quả nghệ thuật phong phú, đa dạng tăng sự linh thiêng cho các sản phẩm đồ thờ bằng đồng của làng Đại Bái.

Hình tượng Rồng

Đây là hình tượng được tiếp thu, kế thừa từ những giai đoạn trước, hình Rồng thường được xem là biểu tượng của sự uy quyền và đồng thời hình Rồng được sử dụng một cách hài hòa trong không gian của ngôi đình, đền, chùa. Hình Rồng thường được kết hợp với mây cũng như nhiều hình tượng trang trí khác có sự thay đổi và phát triển theo từng thời kỳ, những nét chạm điêu luyện dưới nhiều hình thức nghệ thuật như nghệ thuật trang trí phù điêu, nghệ thuật trang trí chạm khảm tam khí ngũ sắc, nghệ thuật có sự kết hợp cả phù điêu và chạm khảm tam khí.

Hình tượng Rồng.
Hình tượng Rồng. 

Đối với trang trí hình Rồng trên đồ thờ bằng đồng thường ở vị trí trung tâm và đây cũng là cách nhận biết mặt trước hay mặt sau của sản phẩm. Về cơ bản hình Rồng trang trí trên đồ thờ đều mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn ở thế kỷ 19, bố cục hình dáng toát lên sự khỏe khoắn thân uốn lượn nhiều khúc. Các hình Rồng trang trí trên đồ thờ bằng đồng đều mang kiểu dáng uốn lượn, thân mảnh, nhìn chung theo cùng phong cách nhưng về chi tiết mỗi hình tượng tùy theo kích thước và bề mặt của đồ thờ tạo ra sự phong phú, không trùng lặp, theo từng kiểu dáng của đồ thờ.

Điểm đáng chú ý về hình tượng Rồng trang trí trên đồ thờ được thể hiện có sự thay đổi về cách gò nổi hay chạm nét, ở phần nắp, phần thân với các kỹ thuật đúc thủng, chạm nổi hay chạm nét cấu trúc hình Rồng được kết hợp ăn nhập và hài hòa cùng hoa văn nét chìm, nổi, khoảng thủng tạo nên sự tương phản của khối - hình, sự tách biệt giữa các phần và trang trí trên sản phẩm.

Hình Rồng chầu mặt trời là một hình thức trang trí phổ biến ở đồ thờ bằng đồng làng Đại Bái, hình tượng này thường chạm ở phần trung tâm trên bề mặt đồ thờ. Từ đó có thể dễ dàng dựa vào phong cách hình tượng Rồng làm tiêu chí để đoán định niên đại của đồ thờ. Hình Rồng thế kỷ 17 được trang trí với đao mác nhọn đầu, đuôi thẳng, vảy xoắn... Hình Rồng thời Trần lưng yên ngựa, hình rồng thời Lý dáng uốn khúc hình sin đều đặn và nhỏ dần về phần đuôi, không có sừng, mũi, tai thân uốn nhiều khúc để trơn, hình rồng thời Nguyễn thân gầy, đao đuôi nheo, đuôi xoắn lại...

Hình tượng Chim Phượng

Thế kỷ 19, trong các hình tượng tứ linh hình Phượng giai đoạn này thường ít hơn so với hình Rồng và Lân. Hình tượng chim Phượng thường được trang trí chủ yếu ở mặt sau của đỉnh đồng và mặt đĩa để hoa quả, yếu tố dân gian được phát triển mạnh, phong phú về kiểu dáng nhìn nghiêng, chính diện, Phượng đang bay, hay chân co chân đứng trên mây… 

Đến thời Nguyễn, hình tượng chim Phượng thường được thể hiện với những nét tương tự nhau, phổ biến nhất là Phượng mang sách. Phượng được thể hiện với một dải lụa dài có buộc một chiếc hộp hình khối chữ nhật nhỏ, hay bảng gỗ có kẻ ô trám kèm theo bút lông, có khi là với cuốn sách cuộn tròn, một chi tiết tuy nhỏ nhưng rất đẹp đó là dải lụa buộc sách được làm nút mềm, buông phần hai đuôi bay sang hai bên làm cho hình trở nên mềm mại và sinh động hơn rất nhiều.

Hình tượng Phượng.
Hình tượng Phượng.

Khi quan sát các sản phẩm đồ đồng của làng Đại Bái, tiêu biểu trên đỉnh đồng: trang trí hình chim Phượng xuất hiện ở mặt đằng sau phần thân đỉnh đồng, ngoại trừ mặt trước của đỉnh thường được chạm Rồng, Phượng được bố cục đăng đối nhau trầu vào giữa theo cách nhìn nghiêng, tạo nên một thể hòa hợp với các phần - hình tượng. 

Nếu như ở thời Mạc hình chim Phượng được thống nhất trang trí kết hợp với mây xoắn, hoa lá thì đến thế kỷ 17 những yếu tố dân gian được phát triển mạnh mẽ hơn, hình tượng chim Phượng có cánh mềm mại, uyển chuyển hơn. 

Sang đến thế kỷ 19, hình tượng vẫn nhiều nét tương tự như vậy, hình Phượng ở trên đồ thờ được chạm khắc theo hình dáng nhìn nghiêng, thời này hình Phượng còn được gắn bó mật thiết trên nhiều vị trí khác. Về tạo dáng, dù chạm ở trên đồ thờ mang phong cách thời Nguyễn, hình Phượng vẫn luôn giữ những vẻ đẹp điển hình như mỏ diều hâu, mắt giọt lệ, đuôi, tóc trĩ, cổ rắn có vẩy, sau đầu và cổ có nhiều lông đuôi nheo.

Hình tượng Lân

Hình Lân là hình mà ở hầu hết di tích nào cũng có và ở rất nhiều vị trí từ trang trí kiến trúc cho đến những vị trí như  ở nắp đỉnh đồng… hình Lân ở vị trí nào đi nữa về ý nghĩa đã được cường điệu hóa, vượt ra ngoài ý nghĩa một con vật bình thường đó là về vũ trụ để chở tâm tưởng của thời đại bay theo ước vọng.

Hình tượng Lân.
Hình tượng Lân.

Thời Lý hình tượng Lân được thể hiện dưới hai dạng khác nhau: thứ nhất lân ngồi trên đài sen (Lân chùa Phật Tích - thời Lý), thứ 2 Lân đội đài sen và làm chỗ ngồi của tượng Phật (chùa Hương Lãng, chùa Thầy). Thời Trần dạng Lân đã nảy sừng, thân béo hơn, sống đuôi dày hơn, Lân thời Trần mang tư cách đón khách hành hương về miền thanh hư. 

Thời Lê - Sơ, chưa tìm được lân trong đồ thờ mà chỉ thấy chạm ở lăng mộ Lam Kinh. Sang đến thời Mạc, Lân đã xuất hiện trên đồ gốm, xong với tư cách đồ thờ Lân được thể hiện nhiều hơn ở thế kỷ 17 trên những cây đèn với trụ đèn hình vuông, Lân đội trụ đèn ở giữa lưng. Đây là những cây đèn đẹp, là sản phẩm của gốm Bát Tràng và hình thức này được kéo dài đến nửa đầu thế kỷ 18. 

Vào thế kỷ 18 Lân được hội nhập vào hệ tứ linh, nhìn chung Lân gần gũi với con Long mã. Thế kỷ 19 Lân hiếm thấy xuất hiện dưới cây đèn, mà thường được thể hiện trên nắp đỉnh đồng dưới dạng một chân đặt lên quả cầu.

Về hình tượng con Lân trên đỉnh thờ tuy được thể hiện dưới dạng tượng tròn nhưng vẫn mang tính chất trang trí, tạo hình được cách điệu, đường nét đều từ các xoáy cho đến cách thể hiện râu, tóc, vẩy, vây tuy đơn giản về hình nhưng bộc lộ được những nét dữ tợn và uy quyền vốn có của nó. Hình dáng Lân nhỏ gọn so với tỉ lệ nắp đỉnh để tạo thành điểm nhấn hình tượng vừa tạo sự phong phú cho nghệ thuật trang trí, vừa mang đầy đủ ý nghĩa sâu xa về tâm linh.

Hình tượng Hạc - Rùa

Hình tượng Hạc và Rùa thường thấy xuất hiện trên đồ thờ, hạc mỏ dài, cổ cao và cong, thân thon đứng thẳng trên lưng rùa. Hình Rùa ở phía dưới thường có thân hình mập, đầu Rùa ngẩng cao, cổ rụt, mặt tròn, mai được chạm hình lục lăng, ngón chân chụm. Thường được chạm với kích thước chung khi đặt để trên ban thờ, đây là con vật của tầng trên chứa đựng trong mình nhiều sinh lực có ý nghĩa nhằm đề cao thần linh. Và khi kết hợp hạc đứng lên lưng Rùa tạo thành một hợp thể Hạc - Rùa muốn nói đến sự đỗi đãi âm dương tượng trưng cho sự thanh tao và cao quý. Cho tới cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, hình tượng Hạc, Rùa được phổ biến dùng trong trang trí đồ thờ.

Hình tượng Hạc - Rùa.
Hình tượng Hạc - Rùa.

Hình tượng Rùa là một loài có thực và được nâng lên làm con vật vũ trụ, vì thế mà đưa vào trong tâm thức của người Việt từ xa xưa. Hình Rùa vốn vẫn mang tư cách như một vị thần, Rùa là sự biểu tượng cho sự chân chính, có thể tiêu trừ được mọi điều xấu. Với đồ thờ, ý nghĩa linh thiêng và được kết tụ lại để phù hợp với ước vọng của người Việt. Từ những quan niệm đó mà tạo nên hình tượng với sự đối đãi âm dương cha trời, mẹ đất.

Mang nhiều ý nghĩa sâu xa như vậy mà hình Rùa thường được biểu hiện rùa cuốn thủy, rùa hạc, cầu sự no đủ, thanh cao... Cho đến thế kỷ 19 trở đi, hình tượng Rùa thể hiện dưới dạng tứ linh, xuất hiện nhiều trên đồ thờ hay trên các hiện vật khác...

Ngày nay, trên các sản phẩm đồ đồng ở làng Đại Bái hình tượng Rồng, chim Phượng…vẫn luôn là những hình tượng được trang trí chủ yếu và xuyên suốt. Được thể  hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, từ hình thức trang trí chạm khảm tam khí ngũ sắc đến hình thức trang trí phù điêu, được cách điệu hóa tăng sự lung linh cho sản phẩm đồ thờ bằng đồng, mang  nhiều quan niệm và ý nghĩa về tâm linh của người Việt.

Thu Hương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).