Hình tượng cây chuối – những mạch ngầm văn hóa!

Các biểu tượng "tùng", "cúc", "trúc", "mai" trong vườn thơ trung đại luôn được các thi nhân chăm sóc, nâng niu. Nhưng đột ngột nổi lên một "cây chuối" của Nguyễn Trãi, rất lạ: "Tự bén hơi xuân tốt lại thêm/ Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm/ Tình thư một bức phong còn kín/ Gió nơi đâu gượng mở xem".

Trong thế giới thơ Ức Trai - một bậc đại Nho có rất nhiều tùng, cúc, trúc, mai như là tất yếu, nhưng sao lại "mọc" lên một cây chuối quê kiểng, dân giã? Chắc chắn có lý do riêng. Nhìn từ "liên văn hóa" (intercultural), soi chiếu vấn đề từ các mối liên hệ chiều dọc (lịch đại) và chiều ngang (đồng đại) may chăng sẽ sáng lên những ý nghĩa mới?

Hình tượng cây chuối – những mạch ngầm văn hóa! -0

Theo nhiều nhà nghiên cứu, trong thơ Đường Tống có tới hàng trăm bài viết về hình tượng này. Nhiều nhất là cảnh mưa rơi trên tàu lá chuối. Bạch Cư Dị trong bài "Mưa đêm" cũng có hai câu mở đầu: "Cách song tri dạ vũ/ Ba tiêu tiên hữu thanh" (Cách song cửa biết mưa đêm/ Lá chuối phát ra âm thanh trước). Đã có sự liên tưởng đọt chuối non như một cuốn sách, lại ở một nhà thơ nữ (Lý Thanh Chiếu 1084 - 1151) với bài "Ba tiêu" (Cây chuối): "Song tiền chủng đắc ba tiêu thụ/ Âm mãn trung đình/ Âm mãn trung đình/ Điệp điệp tâm tâm/ Thư quyển hữu dư tình/ Thương tâm chẩm thượng tam canh vũ/ Điểm trích thê thanh..." (Trước song có vài ba cây chuối/ Bóng phủ kín sân/ Bóng phủ kín sân/ Lá lá buồng tim/ Cuốn sách chứa chan tình/ Đêm mưa khuya trên gối buồn lòng khách/ Tí tách tiếng buồn...).

Thời xưa còn viết chữ vào thẻ tre, viết xong cuốn lại cho vào ống (ống quyển). Sự liên tưởng hình tượng và ý thơ trong bài cho thấy Lý Thanh Chiếu cũng vào hàng đại bút. Sau này, đến đời Thanh, đã có giấy viết nên không còn hình tượng "cuốn thư" (sách cuốn) nữa nhưng lại nhìn lá chuối như một tờ thư. Như trong bài "Ba tiêu" của Trịnh Khắc Nhu (1693 - 1765): "Chuối tơ mỗi lá một đa tình/ Một nõn bung xòe, một nhú sinh/ Tự gỡ tương tư còn chửa dứt/ Lại thêm mưa gió tiếng buồn tênh". Môtif chuối buồn đứng trong mưa lan từ thơ sang họa trở thành một chủ đề đậm trong hội họa cổ điển Trung Hoa, đến mức tạo ra trường phái "Vũ đả ba tiêu" (Mưa dội cành chuối).

Như vậy bài "Cây chuối" của Nguyễn Trãi, xét về thi liệu cũng không lạ, không mới. Nhưng có cái nhìn khác: "Tự bén hơi xuân tốt lại thêm/ Đầy buồng lạ màu thâu đêm...". Một cây chuối rất Việt Nam, tươi tốt, đầy sức sống vào mùa xuân! Nhưng rất có thể chịu ảnh hưởng từ bài "Vị triển ba tiêu" của Tiền Hử thời vãn Đường: "Đuốc lạnh không khói, ngọn nến xanh/ Nõn chuối thơm còn cuốn vì sợ cái rét xuân/ Phong thư còn giấu điều gì đó/ Gió xuân về lén mở ra xem".

Thời trước thủ pháp "tập cổ" là một quy luật giao lưu văn hóa. Nhưng ở bài "Cây chuối" của Nguyễn Trãi khác ở chỗ hình tượng cây chuối đón gió xuân ấm áp, nhất là cái nhìn "độc sáng" coi đó là bức thư tình thì rất mới. Xin nói thêm về hình tượng "buồng" có ba cách hiểu: buồng chuối, buồng văn, buồng trai gái mới cưới nhau. Hiểu "buồng văn" là căn cứ vào chữ "mầu" (mùi), ngày xưa đọc sách thánh hiền nên thường đốt hương trầm vừa để ấm phòng vừa tạo không khí thiêng liêng (!). Hiểu "buồng tân hôn" vì thường giã hồ tiêu có mùi thơm rồi trát lên tường vừa làm ấm vừa tạo kích thích giác quan... Thực ra để hiểu theo kiểu đa nghĩa vẫn thú vị hơn là cách hiểu vào "chữ nghĩa". Trong bản phiên âm, chữ "buồng" này có bộ "thảo" nghĩa là cây cỏ đứng trên chữ "phùng" nên chỉ buồng cây (chuối, cau...). Nhưng tại sao chuối non lại có "buồng" thì rất có thể nên hiểu Nguyễn Trãi "tả cụm chuối"!!!

Có lẽ thêm một đối sánh với bài thơ "Cây chuối" của Basho (1644 - 1694) trong văn chương Nhật Bản: "Cây chuối trong gió thu/ tiếng mưa rơi tí tách vào chậu/ ta nghe tiếng đêm". Bài thơ này được sáng tác năm 1681 khi Basho một mình trong túp lều với tâm trạng cô đơn vì thất tình. Cảnh vật không thể buồn hơn: đêm lạnh gió thổi, mưa rơi tạo thành tiếng trong chậu. Cô đơn cực điểm, con người hầu như chỉ sống bằng xúc giác (lạnh) và thính giác nên mới nghe thấy tiếng gió, tiếng mưa. Nỗi buồn xoáy vào trong, tất cả hầu như chìm đi để nổi lên "tiếng đêm". Nghe mà như không nghe. Bơ vơ, lạc lõng đến vô cùng! Bài thơ này chịu ảnh hưởng Đường thi sâu đậm hơn bài của Nguyễn Trãi!

So sánh với thơ thời trung đại Việt Nam nói về hình tượng này, chưa thấy bài nào sinh động, giàu ý nghĩa hơn thơ Nguyễn Trãi, như: "Dọc giơ gươm đẩu kinh cường khấu/ Lá cuốn cờ xuân tượng thái bình" ("Hồng Đức quốc âm thi tập" của vua Lê Thánh Tông và Hội Tao đàn), hay "Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc/ Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên" (Chinh phụ ngâm) và: "Đêm phong vũ lạnh lùng có một/ Giọt ba tiêu thánh thót cầm canh" (Cung oán ngâm khúc)...

Một bậc đại Nho, đại hiếu, đại nghĩa, một bậc trượng phu quân tử, một người yêu nước yêu dân vĩ đại như Nguyễn Trãi, tất yếu có mối liên hệ sâu sắc, bền bỉ với mạch ngầm văn hóa Việt. Hình tượng cây chuối mang tính mẫu gốc như vậy chắc chắn chứa trong nó các ý nghĩa riêng!

image003.jpg -0
Hoa chuối rừng là vật phong thủy được ưa chuộng!

Xếp vào loài thân thảo, thân hình trụ cao từ 2 đến 4m, nhưng đó chỉ là thân giả. Thân ngầm mọc dưới đất, thường gọi là củ chuối. Hoa chuối lưỡng tính, bắp chuối là hoa đực, không sinh sản, các hoa cái nằm trên hoa đực, tạo trái chuối mà không cần thụ phấn. Hoa xếp thành hai hàng tạo thành nải chuối, mỗi buồng nhiều nải, từ 10-20 nải. Trồng chuối thường lấy loại chồi con được hình thành từ những mầm mọc trên thân ngầm. Với người nông dân Việt thì chuối là loại cây thân thiết bậc nhất. Thường vườn nhà nào cũng có vài bụi chuối.

"Chuối sau cau trước" tức chuối trồng sau nhà thì không đổ ngã khi mùa hè gió bão lại chắn gió bấc mùa đông cho cửa sau. Quả chuối là món ăn bổ dưỡng mà rẻ lại dễ kiếm. Ai cũng dùng được. Trong mâm ngũ quả người Việt (Bắc bộ) thì nải chuối là thứ quả chính để "nâng đỡ" các thứ quả khác. Thân chuối dùng để nuôi lợn (heo), thân cây chuối non thái mỏng là một thứ rau sống rất mát. Bắp chuối nấu với ốc nhồi rất ngon. Củ chuối non nấu với thịt ếch là món đặc sản...

Tươi tốt quanh năm, mỗi cây mẹ đẻ ra năm bảy cây con nên hình tượng cây chuối tượng trưng cho sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, sinh sôi "con đàn cháu đống". Những quả chuối trong nải mọc sát bên nhau gợi về biểu tượng tình đoàn kết gắn bó không rời. Thân chuối do nhiều bẹ chuối quấn tròn chặt lấy nhau biểu tượng cho sự bao bọc, bảo vệ, che chắn trong ngoài. Trong văn hóa Việt, cây chuối tượng trưng cho tình cảm gia đình, mẹ cha, con cái đùm bọc nhau. Mỗi bụi chuối thường 3, 4 thế hệ chẳng khác gì một gia đình "tam, tứ đại đồng đường".

Cây chuối được ví như người mẹ chăm chút con, hy sinh đến mức tuyệt đối, có thân mà như không có thân. Thế nên khi tang mẹ cha, con cái phải mặc đồ xô gai thắt lưng dây chuối để nhớ về công lao sinh thành dưỡng dục. Điều này cũng cắt nghĩa trên bàn thờ đưa vong luôn phải có nải chuối xanh, hai bên ban thờ phải có hai thân cây chuối non cũng là biểu tượng cho con cái trông nom, thờ cúng cha mẹ.

Khoa học hiện đại còn lý giải nải chuối xanh và cây chuối non, ngoài nghĩa biểu trưng còn có tác dụng hút khí độc (từ người chết), do vậy từ xưa các cụ đã kiêng ăn chuối này! Đến đây đủ căn cứ để khẳng định "cây chuối" của Nguyễn Trãi có "mạch ngầm" từ văn hóa dân tộc. Là tác giả (tương truyền) của "Gia huấn ca" nói về những bài học đạo lý, nhất là về chữ Hiếu, chắc hẳn có mối liên hệ ngữ nghĩa với bài "Cây chuối"!?

Không chỉ gần gũi và thiêng liêng với vùng đồng bằng, mà còn với cả miền núi. Nhất là trong văn hóa Tày Nùng thì các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng không thể thiếu hình ảnh cây chuối. Thân, cành lá, hoa dùng để trang trí bàn thờ, để làm đồ cúng như hình ảnh ngôi nhà tượng trưng, hình các con vật quen thuộc...

Đặc biệt là hoa chuối rừng - theo quan niệm từ xa xưa là linh hồn của rừng nên không thể thiếu trong mọi buổi cúng tế. Có lẽ mang một quan niệm chung, trong các sinh hoạt tâm linh, ở cả người Kinh, Tày, Nùng đều sử dụng các bẹ chuối, thân chuối làm biểu tượng các con thuyền, con đò để người chết "sang sông" về "bên kia thế giới"...

Ở miền núi Tây Bắc nước ta có loại chuối lạ, nải chuối như bàn tay, mỗi quả như một ngón tay. Loại này cũng có nhiều bên Thái Lan, được gọi là chuối "Những bàn tay cầu nguyện" (Praying Hands). Ở nước ta (miền Bắc) đang có trào lưu tìm hoa chuối rừng làm vật phong thủy. Hoa mọc thẳng đứng, đỏ tươi tượng trưng cho dương khí, đem nguồn năng lượng tích cực cho ngôi nhà. Còn mang ý nghĩa cho sự sinh sôi nảy nở, thu hút tài lộc, vận may…

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).