Hình thức tiểu thuyết ngắn- Nhìn từ góc độ kinh tế và cơ chế đọc

Ngày nay rất khó nhìn thấy hình ảnh một người say mê đọc những bộ tiểu thuyết trường thiên như "Chiến tranh và hòa bình" của L.Tolstoy, "Sông Đông êm đềm" của M.Solokhov, "Những người khốn khổ" của V.Hugo... mặc dù đó là những kiệt tác văn chương thế giới. Nhưng những cuốn sách “vừa tay” lại có cơ hội tồn tại khi nó phù hợp với sở thích và hoàn cảnh hiện đại.

Sự riêng thích này không phải là một động thái bột phát, ngẫu hứng. Nó có căn nguyên kinh tế và văn hóa mà nhiều khi chúng ta vô tình không để ý. Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Hượu đã có lí khi nhận xét “Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo.

Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng (…). Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải” (Đến hiện đại từ truyền thống). Tất cả những khái niệm “vừa khéo”, “vừa xinh”, “phải khoảng” là chỉ cái tính chất “vừa phải”, “vừa tầm” trong tư duy nghệ thuật (tâm lí sáng tác cũng như tâm lí tiếp nhận) của người Việt Nam có từ lâu đời.

Thiết nghĩ các nhà tiểu thuyết hiện đại không thể không chú ý đến đặc trưng văn hóa này của dân tộc khi sáng tác với câu hỏi “viết cho ai đọc?” và “viết như thế nào?”. Câu hỏi này xuất phát từ góc nhìn kinh tế và cơ chế đọc hiện nay.

 Vẫn phải thừa nhận vị trí không thể chối cãi của những “trường thiên tiểu thuyết” kiểu như "Hồ Quý Ly", "Mẫu thượng ngàn", "Đội gạo lên chùa" của Nguyễn Xuân Khánh (mỗi cuốn đều cỡ 900 trang khổ to), "Kiếp người" (3 tập, 1.500 trang) của Hữu Ước, "Ký ức gã ăn mày" của Tôn Ái Nhân (900 trang),...

Nhưng theo chúng tôi, tiểu thuyết trường thiên không có thị phần văn chương lớn như tiểu thuyết ngắn. Chỉ cần điểm qua sẽ thấy đội hình tiểu thuyết ngắn trên văn đàn đương đại là đông đảo: "Lạc rừng" (1999) của Trung Trung Đỉnh, "Thoạt kỳ thủy" (2004) của Nguyễn Bình Phương, "Tấm ván phóng dao" (2004) của Mạc Can, "Thiên thần sám hối" (2004) của Tạ Duy Anh, "Khê Ma Ma" (2004) của Thái Bá Lợi, "Và khi tro bụi" (2007) của Đoàn Minh Phượng, "Âm dương cách trở" (2009) của Vũ Huy Anh, "Họ vẫn chưa về" (2009) của Nguyễn Thế Hùng, "Trò chơi hủy diệt cảm xúc" (2012) của Y Ban, "Chân trần" (2012) của Thùy Dương, "Con hoang" (2016) của Lê Hồng Nguyên, "Con chim Joong bay từ A đến J" (2017) của Đỗ Tiến Thụy,... Cuốn tiểu thuyết “siêu ngắn” "Hình bóng đàn bà" (2006) của Vũ Xuân Tửu chỉ có 80 trang. Theo tác giả, đây là một cuộc thí nghiệm nghệ thuật “không thành công cũng thành nhân”.

Hội thảo đổi mới tư duy tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
Hội thảo đổi mới tư duy tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

Tiểu thuyết ngắn được đặc trưng bởi cái gì? Trước hết dĩ nhiên là “ngắn” (có độ dài dưới 300 trang). Chúng tôi đề xuất ba tiêu chí để định vị tiểu thuyết ngắn:

- Sự đồn nén dung lượng: Trong nghệ thuật, quy luật “quý hồ tinh bất quý hồ đa” luôn luôn đúng. Xin dẫn vài trường hợp để chúng ta cùng suy ngẫm - đó là hiện tượng Mạc Can với tiểu thuyết "Tấm ván phóng dao". Nhà văn Hồ Anh Thái đã có một nhận xét chính xác về đặc điểm của cuốn tiểu thuyết này “Mạc Can sử dụng hiệu quả "phương pháp gián cách".

Mọi sự kiện, mọi biến động của đời sống bên ngoài vừa được tái hiện trực tiếp lập tức được đẩy ra xa, đưa qua màng lọc của chàng thiếu niên, khắc in lại trong đó những đường đồ thị run rẩy. Chuyện thế sự khi ấy chỉ còn là cái cớ để cho những rung cảm của một con người được dịp phun trào ra, ngân lên.

Sự kiện ngay phút chốc được xóa mờ, nhường chỗ cho những chiêm nghiệm, những rung động, những cung bậc tình cảm tinh tế nhiều vẻ” (Lời giới thiệu "Tấm ván phóng dao"). Sự dồn nén dung lượng, theo cách nói của nhà khoa học, giống như là cách chế tác những “vi mạch” (thể tích sự vật rất nhỏ, nhưng sức chứa dữ kiện rất lớn).

- Sự giản lược nhân vật và cốt truyện: Tiểu thuyết "Thiên thần sám hối" (2004) của Tạ Duy Anh chỉ có hai nhân vật chính: người mẹ mang thai sắp đến ngày sinh con, đứa bé ở dạng bào thai (vì còn 3 ngày nữa bé mới chào đời).

Tiểu thuyết là câu chuyện về cuộc đấu tranh nội tâm của một con người dù hình hài chưa rõ ràng, nhưng đã có thể “thấu hiểu” và thậm chí “thấu cảm” được cuộc đời và cái lí, cái lẽ của cõi nhân gian “Còn bảy mươi hai giờ nữa tôi mới hết giai đoạn bào thai. Sau đó chỉ còn mỗi việc giẫy đạp, gào thét mà chui ra, thế là thành người”.

Cuối cùng, với tinh thần hiện sinh, đứa bé đã dứt khoát “Nhưng tôi chấp nhận cuộc sống, còn bởi một sự thật ngàn lần khó tin hơn: Con người chẳng làm được gì hơn ngoài sự chuẩn bị cho cái chết của chính mình. Vì thế họ phải chuẩn bị đến nơi đến chốn”. Tiểu thuyết của Tạ Duy Anh một dạo đã gây sóng gió dư luận bởi cái “tứ” độc đáo nhưng không dễ chấp nhận “chết khó hơn là sống". "Lạc rừng" của Trung Trung Đỉnh cũng là một ví dụ tiêu biểu.

Tiểu thuyết có cái sức nén và sức phóng của một mũi tên rời khỏi dây cung, bay nhanh tới đích. Nhân vật xưng “Tôi” kể chuyện là một chiến sĩ giải phóng quân bị lạc đơn vị, sa vào giữa trùng trùng rừng núi. Anh được đồng bào dân tộc cứu chữa, nuôi nấng, đùm bọc. Một cuộc “lạc rừng” đã nẩy sinh biết bao nhiêu chuyện, nhưng đằng sau những câu chuyện lạ lẫm là một cái “tứ” rất sâu đậm - sự cần thiết phải va chạm văn hóa với hệ thống khác.

“Lạc rừng” như là một "tình huống tư tưởng giả định" để con người có được cái phẩm tính trải nghiệm, có dịp để chiêm nghiệm và nhận biết cái lí lẽ cũng như cái tình của đời sống vốn vô cùng, vô tận. Trung Trung Đỉnh đã nêu lên một tình huống dự phòng - mỗi lần “đi lạc” là dịp kiểm tra lại năng lực thực tiễn cá nhân.

Sự giản lược nhân vật và cốt truyện, theo chúng tôi, như là hệ quả tất yếu của sự dồn nén dung lượng của hình thức “tiểu thuyết ngắn” đang rất thịnh hành trong văn chương đương đại Việt Nam.

- Phép “tỉnh lược” như là giải pháp cho xây dựng kết cấu tác phẩm.

Nghệ thuật viết là nghệ thuật rút gọn. Trong tiểu luận "Nghệ thuật tiểu thuyết", nhà văn M. Kundera đã viết “Tôi nghĩ rằng để nắm bắt được tính phức tạp của cuộc sống trong thế giới hiện đại cần có một kĩ thuật tỉnh lược, cô đặc. Làm khác đi anh sẽ rơi vào cái bẫy dài dằng dặc (…).

Thử tưởng tượng một tòa lâu đài khổng lồ đến nỗi không thể bao quát hết trong tầm mắt, thử tưởng tượng một bản nhạc bộ tứ kéo dài chín tiếng đồng hồ. Có những giới hạn của con người không nên vượt qua, những giới hạn của trí nhớ chẳng hạn. Khi đọc đến phần cuối cuốn sách, anh còn đủ sức nhớ lại phần đầu. Nếu không, cuốn tiểu thuyết sẽ thành dị hình, tính sáng sủa về kết cấu của nó sẽ tối sầm lại” (Tiểu luận - Nghệ thuật tiểu thuyết. Những di chúc bị phản bội).

 Hiện chúng ta đang nói về “tái cấu trúc” nền kinh tế Việt Nam, nhưng suy rộng ra thì lĩnh vực nào cũng đòi hỏi phải tái cấu trúc. Đã thấy rõ những tìm tòi trong xây dựng cấu trúc tiểu thuyết theo phương pháp “dòng ý thức” ("Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh), phương pháp “tiểu thuyết trong tiểu thuyết” ("Phố Tầu" của Thuận), phương pháp “gián cách” ("Tấm ván phóng dao" của Mạc Can), phương pháp “mã hóa” - chúng tôi tạm gọi ("Trò chơi hủy diệt cảm xúc" của Y Ban)…

Tôi muốn dẫn lại ý kiến của Nguyên Ngọc nhận xét về tiểu thuyết "Khê Ma Ma" của Thái Bá Lợi để thấy rõ hơn tác dụng của “phép tỉnh lược” đối với xây dựng kết cấu tác phẩm “Thái Bá Lợi rất ít khi viết dài, rất ít khi anh để cho một cuốn sách của mình đi đến chỗ nói rốt ráo đến độ chẳng còn gì để nói tiếp nữa” (Lời bạt cho tiểu thuyết "Khê Ma Ma").

 Tạ Duy Anh trong một bài viết đã nhấn mạnh “Xu hướng ngắn, thu hẹp bề ngang, vừa khoan sâu chiều đọc, đa thanh hóa sự đối thoại, nhiều vỉa ý nghĩa, bi kịch thời đại được dồn nén trong một cuộc đời bình thường, không áp đặt chân lí là dễ thấy. Tiểu thuyết ít mô tả thế giới hơn là tạo ra một thế giới theo cách của nó. Ở đó con người có thể chiêm ngưỡng mình từ nhiều chiều hơn là chỉ thấy cái bóng của mình đổ dài xuống lịch sử” (Tiểu thuyết, cái nhìn cuối thế kỉ).

Tôi thấy các nhà văn nữ hiện nay ưa thích viết tiểu thuyết ngắn như Dạ Ngân, Nguyễn Ngọc Tư, Vũ Thị Hồng, Thùy Dương, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Anh Thư, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Lê Hồng Nguyên, Võ Diệu Thanh, Trác Diễm,... Ngắn dường như hợp với “tạng” người và văn của phái nữ.

Tiểu thuyết ngắn, theo chúng tôi, có triển vọng. Tại sao không?

Hà Nội, tháng 10-2018

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.