Hiểu thêm một kiệt tác

Đó là vở tuồng cổ “Hồ Nguyệt Cô”, nhưng vì cái cảnh quan trọng nhất, tinh tế nhất lột tả cái thần thái tuyệt vời của tác phẩm tên là “Hồ Nguyệt Cô hoá cáo” nên người ta gọi luôn cảnh này thay cho tên tác phẩm. Vì là tác phẩm kinh điển nên xin phép được soi chiếu dưới ánh sáng của mỹ học mới, dĩ nhiên có làm sáng được những gì long lanh của viên ngọc quý hay không thì là mong muốn.

Cái cốt truyện của nó đơn giản, ai cũng có thể kể lại bằng một tóm tắt: Qua ngàn năm tu luyện, Hồ Nguyệt Cô được hoá kiếp trở thành người trong thân thể một nữ tướng tài năng, xinh đẹp. Bị lợi dụng trong mối tình với Tiết Giao, nàng nhả viên ngọc trong người ra để rồi phải hoá về kiếp cáo.

Câu chuyện đơn giản nhưng ám ảnh sân khấu tuồng đã hàng mấy trăm năm, ám ảnh bao thế hệ khán giả về thân phận người phụ nữ đáng thương, đáng trọng hay đáng trách, về cái đẹp mong manh, cái tài năng thật giả, về kiếp người thoáng chốc, về tình yêu trong sáng vô tư và đen tối âm mưu, về sự tồn tại những giá trị…

Như vậy tác phẩm nằm trong môtíp hoá thân như đã có rất nhiều trong cổ tích, từ lốt các con vật thường là xấu xí như con cóc, con dê, con cá, sọ dừa… rồi biến thành người hoặc là cô gái đẹp hoặc là chàng hoàng tử hào hoa… Nhân vật cô Tấm xinh đẹp cũng nằm trong môtip hoá thân này, từ quả thị, cây xoan đào, con chim… rồi lại hoá làm người, đặc biệt là mỗi lần hoá là một lần nàng nồng nàn xinh đẹp hơn…

Lý thuyết phê bình văn hoá hiện đại lý giải nguồn gốc những truyện này xuất phát từ nghi lễ trưởng thành của người cổ đại, để thành một người khác con người ta phải qua bao sự hành xác, bị đánh, bị trói, chém, chích… Hôm nay, trong thế giới văn minh ta vẫn thấy nhiều bộ lạc châu Phi còn giữ nghi lễ này với hình thức phổ biến như cắt bao quy đầu (với con trai), cắt âm vật (với phụ nữ)…

Một cảnh trong vở tuồng cổ “Hồ Nguyệt Cô hoá cáo”.
Một cảnh trong vở tuồng cổ “Hồ Nguyệt Cô hoá cáo”.

Hành xác để đổi ngôi từ bé sang lớn, từ ấu thơ sang trưởng thành. Với mỗi cá nhân, cái mốc “đổi ngôi” này rất quan trọng, là bước ngoặt cuộc đời, vừa là cái chết (ấu thơ) vừa là tái sinh (người lớn). Ta hiểu thêm vì sao nhân vật cổ tích thường phải trải qua cái chết mang tính tạm thời (bị giết, bị cá ăn thịt, bị ném xuống biển, bị yêu quái nuốt…) nhưng rồi lại tái sinh trong hình hài mới sống động hơn nhiều (thường là một người chồng/vợ mới tài, đẹp, sang trọng, vương giả… Vì hôn nhân là sự chứng minh đã trưởng thành). Như vậy con đường mỹ học cổ tích đi từ bóng tối vươn ra ánh sáng, từ hình ảnh vật đen đúa xấu xí bước ra hình hài người rạng rỡ chói loá.

Nhưng “Hồ Nguyệt Cô hoá cáo” lại trong hoàn cảnh ngược lại, từ người hoá vật. Tiếng than của nàng không chỉ là tiếng than của nhân vật đánh mất “ngọc người” mà là tiếng than của một thời đại, của những kiếp người, những thân phận đánh mất bản thể, để không bản sắc, mất cái tôi riêng, tức mất mình, không còn là mình.

Đã qua hàng ngàn năm tu luyện, từ kiếp cáo nàng được trở thành người. Lại là một người đẹp và tài năng của một mãnh tướng. Nhưng dù sao nàng vẫn là phụ nữ, mà phụ nữ thì vẫn biết, vẫn muốn yêu và được yêu. Oái oăm thay nàng yêu Tiết Giao đối thủ, dù tài năng của hắn không thể sánh với nàng. Nhưng đó là một viên tướng trẻ đẹp với hình ảnh lý tưởng trong vóc dáng khoẻ mạnh, khuôn mặt thanh tú nước da tươi hồng, nhất là hành động thì thật tuyệt vời: “Cất con vát như bông bay lá rụng…”. Nàng đã yêu và quyết ân ái với người yêu. Nhưng Tiết Giao là đồ phản trắc. Hắn lợi dụng cuộc tình, lợi dụng tình yêu trong sáng của nàng để đoạt viên ngọc trong người nàng. Mà nếu mất viên ngọc đó, nàng sẽ về kiếp cáo. Một phút nông nổi và hàng ngàn năm tu luyện.

Kiếp người và kiếp cầm thú. Hạnh phúc phút giây và hàng ngàn năm trả giá. Tình yêu trong sáng và thủ đoạn dối lừa. Tin vào tình yêu và bất hạnh vì phản bội… Tất cả cứ ngược nhau, tương phản nhau dữ dội để bật ra cái tư tưởng đau đớn mà trong sáng thánh thiện đến tận cùng: Hãy để cho những Hồ Nguyệt Cô ở lại kiếp người vì họ có trái tim người. Chỉ có Tình yêu là vĩnh cửu, đừng lợi dụng nó, nhất là đừng phản phúc nó. Hỡi Tình yêu, hãy cảnh giác với những Tiết Giao…

Trong văn bản của kịch bản Tuồng cổ thì có chi tiết Tiết Giao lừa Nguyệt Cô, đánh đúng vào chỗ yếu là tấm lòng vị tha, thương người của nàng. Hắn vờ đau bụng và nói chỉ có ngọc của nàng là chữa khỏi…

Cũng trong kịch bản cổ thì Hồ Nguyệt Cô đã có chồng, một võ tướng tài năng là Võ Tam Tư, đã cùng chồng chinh chiến trên lưng ngựa, đã cùng nhau hưởng bao vinh hoa trong hào quang chiến thắng… Thế mà nàng lại đi yêu và trao thân cho Tiết Giao, kẻ thù của mình!

Hình như những chi tiết này nhằm mục đích tăng cường thêm chất bi cho tác phẩm, quan trọng hơn là tăng cường thêm chất triết lý cho câu hỏi: nàng có oan khi hoá cáo? Tình yêu của nàng có tội? Cái chết của nàng có đích đáng? Dân gian để Hồ Nguyệt Cô giãi bày về chồng trong những phút cuối cùng: Ngàn dặm thẹn cùng non nước/ Ngắm mơ màng thân trước hình sau/ Dặm hoè một bước một đau/ Nhìn quang cảnh cũ ra màu dở dang/ Ôm lòng hổ với phu lang/ Non sông lỗi hẹn cùng chàng trăm năm… Nó là lời hối để nỗi đau thêm chất chứa!

 Thì ra giữa kiếp người và kiếp vật chỉ là một viên ngọc. Viên ngọc long lanh sáng kia không chỉ là giá trị vật chất, cơ bản hơn, nó là sự bảo đảm, bảo hiểm cho kiếp người, phận người, thân người, nhân cách người. Tức một “siêu giá trị”. Vì có gì giá trị hơn con người đâu. Minh triết dân gian sáng tạo ra hình tượng viên ngọc ấy cũng thực sự là “siêu trí tuệ”. Còn phải là một tâm hồn mạnh mẽ, rất khoẻ nồng nàn yêu thương con người mới nghĩ ra được cái vật “bảo hiểm” giữ vững con người trong địa hạt tính người, không để người rơi xuống kiếp vật. Ai là người, không riêng Hồ Nguyệt Cô cũng đều có “ngọc người” của riêng mình. Ranh giới người/ vật cũng thật mong manh. Chỉ một phút yếu lòng là con người ta rất có thể nhả “ngọc” để về kiếp thú!!!

 Dưới góc nhìn mỹ học, viên “ngọc người” chính là một “mỹ học của cái Khác”. Con người ta tạo ra giá trị riêng của mình phải là cái Khác, cái Khác phải quý (quý như ngọc), phải hiếm (hiếm như ngọc), phải đẹp (đẹp như ngọc). Phải luôn tạo ra, giữ gìn, làm bền vững cái Khác ấy, đừng để mất. Mất cái Khác là mất mình!

Trong cổ tích nhân vật hạnh phúc khi được đổi ngôi, ở đây thì ngược lại. Hồ Nguyệt Cô cố gắng bằng mọi cách, mọi giá để không chịu đổi về kiếp vật. Nhân vật quằn quại trong thời điểm đau đớn thê thảm nhất: quá trình từ người hoá thành cáo. Tiếng thét lạc giọng của nàng báo hiệu thảm cảnh Thất sắc thất sắc/ Kinh hồn kinh hồn. Lúc này nàng tỉnh táo còn nhận ra hoàn cảnh Uổng ngàn năm thâu góp báu càn khôn/ Xẩy một phút tan tành trường phong nguyệt. Tiếng than của nàng là tiếng đau của tình yêu, tiếng đau của kiếp người. Đau nhưng vẫn còn là tiếng người nức nở: Tiết Giao! Trả ngọc ta! Tiết Giao! Trả ngọc ta! Còn là tiếng người trong đau đớn: Trăm lạy tình lang, ngàn lạy tình lang, trả lại cho em kẻo tội lắm, tình lang ôi!

Nỗi đau cực điểm khi kiếp cáo đã hiện hình. Tiếng người tắc lại. Nỗi đau bung trào. Vẫn còn là người, nàng cố tìm cương và trèo lên lưng con ngựa thân thương, tin tưởng tuyệt đối của mình. Nàng cố ghìm cương. Nhưng con ngựa nhận ra nàng không còn là chủ. Chiến mã oai phong từng đưa nàng chinh chiến sợ hãi vùng chạy hất nàng ngã xuống trước tiếng gào của loài cáo bật ra ghê sợ, kinh hoàng…

Như vậy, khi đã đánh mất mình thì có nghĩa đánh mất mọi mối liên hệ với cuộc đời, kể cả với con vật từng yêu dấu. Đúng hơn, con người ta làm mất bản thể, không còn bản ngã riêng mình thì mọi vật quen thuộc cũng cự tuyệt!

Nguyệt Cô phải đón nhận một đường gươm cuối cùng của người chồng Võ Tam Tư…!!!

“Hồ Nguyệt Cô hoá cáo” là một kiệt tác ngay ở góc độ ngôn ngữ: đau đớn nhất là không nói được, đúng hơn là không được đối thoại, vì đã tự đánh mất hoàn cảnh đối thoại. Vì để có thể đối thoại được phải có cái Riêng, mà trong tác phẩm, đó chính là viên ngọc.

Vở tuồng là một tiếng nói nghệ thuật kinh điển về cách hiểu. Nhân vật Hồ Nguyệt Cô đáng kính, đáng yêu, đáng trọng, hay đáng thương, đáng ghét? Ảnh hưởng và chi phối bởi mỹ học Nho gia nhưng tại sao nhân vật lại mang tính “nổi loạn” muốn phá vỡ thứ mỹ học giáo điều cấm đoán ấy? Nhưng không ai phủ nhận nhân vật là một biểu hiện sức sống mãnh liệt, đầy cá tính khát khao đổi thay. Đây đích thực là hình tượng nghệ thuật bởi sự vươn lên khỏi cái thông thường, ổn định, quen nếp. Nó sẽ mãi vĩnh cửu bởi vẻ đẹp, bởi sự đa nghĩa, bởi nó mang cấu trúc của toà lâu đài nhiều cửa mà mỗi người với vốn liếng mỹ học của mình mà đi vào cửa nào thấy thích, thấy hợp.

 Chúng ta tự hào nhìn ra văn học thế giới khi mà đầu thế kỷ XX (1915) nhà văn nổi tiếng thế giới Franz Kafka mới viết “Hoá thân” theo môtip người hoá vật như trong “Hồ Nguyệt Cô hoá cáo”. Nhân vật Gregor Samsa, một nhân viên bán hàng, thức dậy thấy mình tự biến thành một con bọ khổng lồ. Thế là nhân vật bắt đầu quá trình thích nghi với “hoá thân” nhưng kết quả anh ta lại trở thành gánh nặng cho người thân. Gia đình mất đi sự yên ấm thường có, thay vào là những sự tàn nhẫn, ghét bỏ nhau… Một cuộc khủng hoá thật sự bắt đầu từ “hoá thân”… Ra đời trong một cơ sở xã hội tư bản khủng hoảng giá trị, truyện là một ý nghĩa lớn phơi bày mặt trái xã hội làm con người đánh mất nhân tính, đánh mất bản thể…

Đối sánh khái lược như vậy ta càng thấy ý nghĩa “Hồ Nguyệt Cô hoá cáo” thực sự là một tiếng nói nghệ thuật mang tầm nhân loại. Chỉ tiếc tiếng nói ấy chưa vượt qua được màn lưới ngôn ngữ còn ít được phổ biến trên thế giới (tiếng Việt), lại bị mã hoá bởi những lớp huyền thoại rất khó chuyển ngữ (sân khấu Tuồng đầy tính ước lệ)!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).