Kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh, liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2022)

Hát về những người con trung hiếu

Dân tộc Việt Nam ta có nhiều truyền thống tốt đẹp. Một trong những truyền thống đó là "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Đạo lý này đã được biểu hiện rõ trong nền ca khúc cách mạng Việt Nam. Một tỉ lệ bài hát đáng kể đã được dành để nói về những anh hùng liệt sĩ - những người con trung hiếu của Tổ quốc.

Bài hát ra đời sớm và được nhiều người biết đến để ghi công ơn những chiến sĩ đã quên thân mình, hy sinh vì dân vì nước là "Hồn tử sĩ" của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Bằng một giai điêu trầm lắng, tiết tấu chậm rãi, bài hát như một khúc mặc niệm của những người còn sống trước vong linh những người đã ngã xuống: "Đêm khuya âm u, ai khóc than sương mù…". Với tính khái quát cao của lời ca và hình tượng âm nhạc, ca khúc này đã trở thành "bài ca mặc niệm" của mọi người tại các buổi lễ sau khi chào cờ, bằng phần diễn tấu nhạc không lời của dàn quân nhạc.

Mỗi trang vàng của lịch sử Cách mang Việt Nam đều gắn với những người con tiết liệt. Tên tuổi những Lý Tự Trọng, Võ Thị Sáu, Kim Đồng… đã sống mãi trong sự ngưỡng mộ, biết ơn của các thế hệ người Việt Nam. Nhạc sĩ Phong Nhã có bài "Kim Đồng" được nhiều em thiếu nhi và người lớn ưa tích: "Kim đồng quê hương Việt Bắc xa mù, Kim Đồng thay cha rửa mối quốc thù…".

Người Việt Nam biết ơn chị Võ Thị Sáu, người con gái đã đi vào huyền thoại khi mới 16 tuổi, và bài "Biết ơn chị Võ Thị Sáu" của Nguyễn Đức Toàn quả là xứng đáng với tầm vóc lớn lao của sự hy sinh cao cả đó. Bằng một loạt những nốt luyến ở các chùm ba, tác giả tạo ra tiếng khóc nức nở, nghẹn ngào của người còn sống trước cái chết kiêu hùng của người con gái còn rất trẻ quê ở vùng đất đỏ Bà Rịa: "Mùa hoa lêkima nở, ở quê ta miền đất đỏ, thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng đã chết cho mùa hoa…".

untitled-10.jpg -0
Sự hy sinh anh dũng của những người con ưu tú như Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu (1933-1952), Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi (1940 - 1964)... luôn là nguồn cảm hứng cho các văn nghệ sĩ.

Nếu những Lý Tự Trọng, Võ Thị Sáu không khuất phục trước kẻ thù, sẵn sàng đón nhận cái chết trước mũi súng quân thù để "cho lá cây thêm xanh" (Ca ngợi Lý Tự Trọng), để "mùa hoa lêkima nở, mầm xanh lan tràn xứ sở" (Biết ơn chị Võ Thị Sáu) thì những Bế Văn Đàn, Ngô Mây lại không tiếc thân mình cho một trận đánh thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Bế Văn Đàn đã lấy thân mình làm giá súng để đi vào bài "Bế Văn Đàn sống mãi" của Huy Du. Ngô Mây dũng cảm ôm bom lao vào quân giặc để thành một hình tượng rất đẹp trong "Bài hát Ngô Mây" của Nguyễn Đức Toàn.

Nối tiếp truyền thống những người lớp trước, sau này, những Lê Thị Hồng Gấm, Lê Đình Chinh đã tô đẹp thêm trang sử anh hùng. Về hai người con trung hiếu này, nhiều bài hát hay gây xúc động lòng người đã ra đời: "Những cánh chim Hồng Gấm" (Phạm Tuyên), "Hát về Lê Đình Chinh" (Bảo Chung), "Núi rừng kể mãi về anh" (Nguyễn An)…

Năm 1964, một sự kiện chấn động toàn cầu. Đó là hành động dũng cảm tuyệt vời của người thợ điện trẻ quê ở Quảng Nam có tên Nguyễn Văn Trỗi đã không sợ chết, tìm cách tiêu diệt viên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc đó là Mắcnamara. Việc không thành, anh bị bắt và bị xử bắn. Những giây phút ở pháp trường trước khi ngã xuống, anh đã khiến tất cả mọi người - kể cả quân thù - phải cảm kích.

Đó là ngày 15/10/1964 - một ngày có thể nói đã làm rung chuyển dư luận nước Mỹ. Ngay sau đó, hàng loạt bài hát xúc động về sự kiện này đã ra đời: "Lời anh vọng mãi ngàn năm" (Vũ Thanh), "Ca ngợi Nguyễn Văn Trỗi" (Hiền An), "Nguyễn Văn Trỗi - anh còn sống mãi" (Nguyễn Đức Toàn)… Cái chết kiêu hùng của người thợ điện thành phố Sài Gòn đã có tác động mạnh mẽ, làm bùng lên ngọn lửa đấu tranh cách mạng vốn đang sục sôi khắp miền Nam trước sự dày xéo của đế quốc Mỹ: "Noi gương anh còn có triệu người. Cả miền Nam đang sôi tim gan, cuồn cuộn dâng lên như phong ba, dìm đầu quân cướp Mỹ xâm lăng…" ("Lời anh vọng mãi ngàn năm" của Vũ Thanh).

Đó là những người con đã ngã xuống, vĩnh viễn yên nghỉ giữa lòng đất quê hương. Tất cả những bài hát nói về họ đều có giai điệu thâm trầm, lắng đọng nhưng không não nề mà luôn vút lên âm hưởng khoẻ khoắn, hào sảng. Dễ hiểu bởi cái chết của họ là sự hy sinh vì nghĩa lớn, vì sự sống còn của Tổ quốc, vì vận mạng của dân tộc. Lý tưởng cao đẹp ấy đã thổi vào những bài hát viết về anh hùng, liệt sĩ một không khí vừa bi tráng, vừa lạc quan.

Lại có vô vàn những người con trở về sau các cuộc chiến đã không còn lành lặn, mà đã gửi lại chiến trường một phần xương thịt. Trở về quê hương, họ đã sống giữa sự ngưỡng mộ, biết ơn của cộng đồng. Và đó chính là nội dung được biểu hiện trong rất nhiều bài hát thành công, được công chúng ưa thích: "Người thầy giáo thương binh", "Anh thương binh về làng" (Nguyễn Đức Toàn), "Vết chân tròn trên cát" (Trần Tiến), "Cỏ non thành cổ" (Tân Huyền)…

Cuộc sống sau chiến tranh của người thầy giáo thương binh trong bài "Vết chân tròn trên cát" thật đẹp, giàu chất lãng mạn và nhân văn. Nhạc sĩ đã khai thác việc dạy hát của thầy giáo cho học trò thay vì nói đến dạy chữ. Điều này đã tạo thuận lợi cho việc biểu hiện đời sống tâm hồn với những tâm tư sâu kín nhất của đối tượng đề cập: "Bài hát có ngọn núi quê anh xa vời, bài hát có đồng lúa mênh mang câu hò. Bài hát có người lính đã hy sinh âm thầm…". Vừa lãng mạn lại vừa hiện thực biết bao khi: "Cho hôm nay những vết chân son vui quanh dấu chân tròn" và "Bài hát có ngọn gió cuốn bay theo dấu chân tròn, để lại một bài ca trên cát trắng bao la". Bài hát của Trần Tiến độc đáo và cảm động rất được anh em thương binh ưa thích.

Với "Cỏ non thành cổ", nhạc sĩ Tân Huyền sâu sắc khác hẳn với phong cách quen thuộc của ông ở nhiều ca khúc khác: đại chúng, đại trà, thường diễn đạt những tình cảm nhẹ nhàng. Thành cổ năm xưa chứng kiến những trận chiến khốc liệt, ngoan cường của quân dân ta. Rất nhiều chiến sĩ đã vĩnh viễn không trở về. Hôm nay - sau bao nhiêu năm - nơi thành cổ hoang tàn xưa đã tràn ngập sự sống mà biểu tượng là những nhành cỏ non "một màu xanh non tơ, cỏ mềm theo gió đung đưa". Tác giả như trầm ngâm đứng lặng để mặc niệm trước hương hồn những người đã khuất. Và ông nhắn nhủ: "Cỏ xanh non tơ xin chớ vô tình với người hy sinh trên mảnh đất quê mình…". Một bài hát ngắn gọn có bố cục chặt chẽ với cảm xúc đủ để tạo nên cung bậc thành tâm, trân trọng. Phảng phất trong bài như có mùi hương khói và như thấp thoáng hình ảnh những lớp người hôm nay ngả mũ cúi đầu, chắp tay khấn vái trước vong linh người đã về thế giới bên kia.

Nguyễn Đình San với 3 ca khúc: "Truông Bồn khúc tưởng niệm", "Hát từ Truông Bồn hôm nay" và "Nàng Tô Thị không con" đã khiến người nghe rơi nước mắt khi nói về những người con gái chưa chồng đã ngã xuống tại Truông Bồn năm xưa và những cô gái thủy chung ở hậu phương mỏi mòn chờ người yêu đã tử trận để mình hóa đá như câu chuyện mang tính truyền thuyết về nàng Vọng Phu trong dân gian.

Dù trực tiếp hay gián tiếp, dù nói về những người đã hy sinh hay còn sống trở về với những khuyết tật trên cơ thể, những bài hát về đề tài đang bàn trong kho tàng ca khúc cách mạng Việt Nam đều có chung âm hưởng bi hùng, lạc quan. Dù các nhạc sĩ tìm đến điệu thứ để tạo nên màu tối sâu lắng hay điệu trưởng để tạo vẻ sáng sủa, hoạt, tươi, tất cả các bài hát viết về anh hùng, liệt sĩ, thương binh đều có ngôn ngữ âm nhạc được xây dựng trên những chất liệu dân tộc mang đậm màu sắc Việt Nam, không thể lẫn với bất cứ dân tộc nào khác. Những bài hát có giai điệu thoát ly điều này hiển nhiên đã không có đời sống ngay từ khi tác giả mới khai sinh. Một điều cũng cần được ghi nhận về ca từ, những bài hát hay nhất đều đạt được sự dung dị. Sự sáo mòn về nội dung lời ca sẽ không thể phù hợp với việc thể hiện chủ đề này.

Hát về những người con trung hiếu của dân tộc sẽ là một mạch nguồn cảm hứng vô tận không bao giờ cạn trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam nói chung, giới nhạc sĩ nói riêng. Bởi ai cũng biết rằng dân tộc ta có được cuộc sống ngày hôm nay là nhờ ở công đức vô cùng lớn lao của những người con trung hiếu đó. Mạch âm nhạc về chủ đề này chắc chắn vẫn sẽ còn tuôn chảy trong sự nghiệp sáng tác của các nhạc sĩ Việt Nam.

Thôn Ca

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).