Hạt giống “Mùi của ký ức”

Đọc “Mùi của ký ức” của nhà văn Nguyễn Quang Thiều, NXB Trẻ, 2017.

Lần gần đây nhất, bạn - người đàn ông trong gia đình nấu cho người thân của mình ăn là khi nào? Hẳn đây không phải là một câu khó trả lời nhưng có thể khiến người được hỏi không mấy cảm thấy hạnh phúc, rất có thể trong số đó có cả những người làm phu chữ nghĩa. Nhưng có một nhà thơ, nếu được hỏi, tôi tin ông sẽ không ngần ngại trả lời rành rẽ nhất về mùi vị của các món ăn đã ngấm vào hồn mình, tay mình từ bé đến tận lúc về già. Một người biết gọi ký ức bằng mùi vị, “Mùi của ký ức”- nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

Sinh ra và lớn lên ở một làng quê nghèo bên bờ sông Đáy, Nguyễn Quang Thiều đã nói nhiều về làng Chùa quê mình trong những trang văn. Nhiều đến mức, nhắc đến Nguyễn Quang Thiều, người ta nhớ ngay đến làng Chùa, dù có thể chưa từng gặp nhà thơ hoặc chưa từng đến làng của ông bao giờ. Văn học có cách đi thật đặc biệt, cho người ta hình dung những điều chưa từng thấy và tin những điều chưa từng trải qua. Văn học có cách gói mở nguyên một thứ xúc cảm từ trái tim để đưa đến những trái tim khác.

“Mùi của ký ức” là mùi của không gian thơm. Thơm của ao sen, rau khúc, của rơm rạ tháng mười, cơm mới, của dòng sông, cải hoa và rau dại, của rám nắng, bết mưa, của ngô khoai và tro nấu bếp. May mắn của một con người là được lớn lên từ một ngôi nhà, một chái bếp, một làng quê, từ những gì thân thuộc, giản đơn, ấm áp và khiêm nhường nhất. Hạnh phúc của một con người, là được bọc trong tình yêu thương của gia đình, của bà, của mẹ; được ăn một món ngon, uống dòng nước mát…; được bay bổng và tưởng tượng, được trải nghiệm đủ nhiều để cuối cùng được trở về hồi niệm nhớ.

Có thể nói Nguyễn Quang Thiều là một người có nhiều ký ức hạnh phúc. Dù thật khó cắt nghĩa  ký ức về “màu trắng mơ hồ như sương” khi mỗi mùa rau khúc nở và màu trắng vỏ bánh khúc làm bằng những hạt xôi nếp, với tác giả, màu nào no ấm hơn. Khó cắt nghĩa vẻ đẹp rực vàng hoa cải và màu xanh bát canh cua nấu cải, màu nào tươi mát hơn.

Cũng như, khó cắt nghĩa vị ngon của những tay măng tre ngâm trong nước tương hay vị của những quả trứng vịt đẻ lang được lũ trẻ bọc đất nướng dưới lửa củi và lá khô, vị nào hấp dẫn hơn. Bởi vì món đó, ký ức đó, là nó mà không phải chỉ riêng nó. Nó là thời gian từ quá khứ đến hiện tại, của cả người sống và người đã khuất kết lại mà thành. Nó là sự dịch chuyển nâng đỡ, thiên nhiên nâng đỡ lấy con người, cho con người nguồn sống, để con người thương yêu, bao bọc nhau. Nó là không gian thơm thảo đúng nghĩa.

Nhưng Nguyễn Quang Thiều có cách dẫn mùi thơm như dẫn ánh sáng đi qua những đám mây để chúng không trở nên mơ hồ. Ông nói món ăn để quay trở về làng nơi có bãi bồi dâu, cải, có dòng sông, bến đò xưa cũ; nơi có bà, có mẹ, có cha, có anh em, hàng xóm của mình - những người từng nấu cho ông ăn.

Nhắc nhớ bà nội, khi còn là một cậu bé, vào độ giêng hai mưa xuân, buổi sớm ông theo chân bà ra cánh đồng hái rau khúc, rồi “ngồi bên bếp lửa cùng bà đồ bánh”, hít hà ngào ngạt mùi thơm, để được ăn chiếc bánh “nóng hổi vừa dỡ từ chõ ra”. Là nhớ lại những lần đi chợ Tía, bà dẫn vào ngồi ăn bánh đúc riêu cua hay lần theo bà đi bộ hai mươi cây số ăn giỗ ở Khê Tang (Thanh Oai) với bị khoai đốm quấn; là khi tận mắt xem bà muối cà, làm tương, muối giềng. Ông nhớ mẹ mình, bà thường “don ốc” trong vại để dành làm món ốc nhồi nấu chuối rằm tháng bảy; nhớ món canh lá dâu nấu hến mùa hè ngon mát bà làm, những niêu cá kho, những mẻ bánh sắn, bánh khoai, bánh mật qua tay. Ông kể chuyện mâm cỗ cá đủ món ngày thường của cha khi nhà có khách, món gỏi cua “độc nhất vô nhị” cha ông làm thết bạn…   

Như một món ăn đủ hương vị vừa hoàn thành, cuốn sách có thể làm vừa lòng nhiều người thưởng thức. Đọc sách có thể biết ẩm thực của một làng quê Bắc Bộ, đọc sách để được chỉ dẫn nấu ngon món ăn lạ. Đọc để hình dung đời sống hoang dã của những cậu bé nông thôn, nay đã ở tuổi trên dưới 60. Đọc sách, cũng là một cách để  hiểu thêm tâm hồn của một nhà thơ đã được nuôi dưỡng thế nào, ngoài thơ hay tiểu thuyết, hay truyện ngắn đã in của tác giả.

Không ai bắt một thi sĩ phải nhớ lại mọi “sự kiện tâm hồn” của mình, càng không bắt họ phải nhớ lại tường tận các món đã từng ăn. Nguyễn Quang Thiều kể chuyện các món ăn, tự nhiên như kể lại “sự kiện tâm hồn” mình. Người đọc không trầm trồ những tinh tế, kỹ lưỡng của người đứng ngoài quan sát rồi ghi chép lại, mà vị nể tác giả của những trang viết ấy là người có thể nấu các món ăn ngon bằng tất cả cảm hứng của mình. Thứ cảm hứng tỏa ra từ bà, từ mẹ, từ cha, từ không gian ẩm thực làng quê, từ trải nghiệm ngay từ tấm bé.

Không nấu được từng ấy món ăn, không ăn từng ấy món ăn (như cuốn sách đề cập) thêm một lần nào nữa, sẽ có những món ăn khác giúp duy trì phần xác nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tồn tại. Nhưng nấu được từng ấy món ăn, bằng cả vật chất và tinh thần, cả ký ức lẫn hồi niệm thì tâm hồn nhà thơ được sống lại, không phải ông lão 60 mà là một cậu bé đang ở đâu đó trên cánh đồng mùa màng trải đầy hạnh phúc. Dù rằng không phải mọi điều nhớ lại đều làm nhà thơ vui, có khi chúng vọng lên những câu hỏi mà hiện tại đã không đủ sức trả lời như những năm tháng quá khứ đã trả lời.

Nhưng “những hạt rau khúc nhỏ li ti như những hạt bụi”. “Làm thế nào mà những cây rau khúc bé bỏng lại có thể giữ được sự sống của chúng trong đất suốt một năm trời qua mưa bão, nắng gió và đến một ngày lại thức dậy tràn đầy sự sống như thế?”. “Mẹ chàng đã mất nhiều năm nay và không còn ai trồng cải trong vườn để cải ra hoa và gọi chàng về nữa. Chàng đứng đó im lặng cho tới khi bóng tối phủ kín khu vườn. Một vài vạt hoa cải để làm giống cho mùa sau không làm thay đổi đời sống vật chất của chàng. Nhưng màu vàng của nó đã nuôi lớn một phần tâm hồn chàng”. “Chàng đứng trong vườn, lòng xao động lạ thường. Một cảm giác không cầm lòng được tràn ngập trong chàng. Và chàng đã viết một câu thơ "Hoa cải rơi không thể cầm lòng” như gieo một hạt giống trong lòng mình”.

Khi trở lại từ quá khứ, chúng ta biết, nhà thơ đã mang cho chúng ta quà tặng là những hạt giống diệu kỳ. “Chỉ cần cúi xuống”, vỡ những luống đất trong tâm hồn, thì chúng ta và những hạt giống ấy, sẽ được gieo trồng. Và ký ức sẽ được tiếp nối.  

Hải An

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).