Hành trình “Đi tìm Thùy” của người cựu binh Mỹ đã giải mã được nhiều “ẩn số”

Mãi đến năm 2010, Robert Whiterhurst mới chịu dừng lại và hành trình tìm kiếm xúc động ấy được ông viết lại trong cuốn “Đi tìm Thùy”. Bản thảo cuốn sách tiếng Anh khoảng 200 trang này đã được ông tin cậy chia sẻ  với  chị Đặng Kim Trâm.

Tháng 3-2016, khi cùng luật sư Carl W. Greifzu - cựu binh Mỹ đã giữ cuốn nhật ký của Anh hùng Đặng Thùy Trâm hơn 20 năm - đến thăm gia đình bà Doãn Ngọc Trâm (mẹ của liệt sỹ Đặng Thùy Trâm) ở Hà Nội, tôi đã được nghe chị Đặng Kim Trâm (em gái liệt sĩ Đặng Thùy Trâm) kể nhiều về hành trình “đi tìm Thùy” nhiều năm của cựu binh Mỹ Robert Whiterhurst sau khi đã cùng em trai Fredric tìm và trao lại cuốn nhật ký cho gia đình chị Đặng Thùy Trâm.

Mãi đến năm 2010, Robert Whiterhurst mới chịu dừng lại và hành trình tìm kiếm xúc động ấy được ông viết lại trong cuốn “Đi tìm Thùy”. Bản thảo cuốn sách tiếng Anh khoảng 200 trang này đã được ông tin cậy chia sẻ  với  chị Đặng Kim Trâm.

Những chi tiết trong hành trình ấy ám ảnh đến mức, đúng một năm sau, tôi trở lại ngôi nhà của bà Doãn Ngọc Trâm, mong muốn được chị Đặng Kim Trâm giúp đỡ, kể về câu chuyện đầy tình người và chặng đường tìm kiếm kéo dài suốt 5 năm của Robert…

Sự gắn bó vô hình với người liệt nữ nhiều năm liền khiến 2 anh em Robert rất nặng lòng. Nếu Fredric giữ cuốn nhật ký như một vật thiêng, thì Robert lại luôn muốn hiện thực hóa các tư liệu trong cuốn nhật ký.

Robert tâm sự: “Trong suốt 35 năm kể từ ngày Thùy Trâm hy sinh, tôi đã đọc 2 cuốn nhật ký của chị không biết bao nhiêu lần, đã biết được chị hy sinh ở đâu và vào lúc nào. Tôi cũng muốn biết quê quán chị ở đâu và chị là ai trước khi vào Nam để bước vào cuộc chiến tranh…

Thùy Trâm đã trở thành biểu tượng của những gì họ đã mất đi và vì sao họ dám chịu những mất mát ấy.

Câu chuyện của chị đã giúp đóng lại những vết thương cũ. Nó giúp cho đồng bào của chị biết đến hai cựu binh Mỹ vô danh, và giúp chúng tôi biết rằng có rất nhiều người Việt Nam mong muốn kể những câu chuyện về họ và cuộc đời họ.

Chị đã đến để nói lên tiếng nói của thế hệ chị: Với tôi chị là một trong những tiếng nói của thế hệ của chính tôi, và dần dần tôi tin rằng, sứ mệnh ấy của chị sẽ được chấp nhận bởi bất cứ ai từng đọc những cuốn nhật ký này, dù cho đó là ở bất cứ phía nào của Việt Nam, dù là Bắc hay Nam, và của mọi người Mỹ, dù là cựu chiến binh hay không…”.

Vì thế, sau khi cuốn nhật ký của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm được xuất bản và trở thành một sự kiện lớn, lẽ ra Robert có thể coi như ước nguyện lớn trong đời ông đã hoàn thành.

Nhưng ngược lại, Robert vẫn cháy bỏng khát vọng tìm hiểu thêm về người liệt nữ. Sự hy sinh anh hùng của chị Thùy mà một người lính Mỹ kể cho Fred không giống với nhiều phiên bản khác.

Vậy Thùy hy sinh trong hoàn cảnh nào? Một mình hay có đồng đội? Robert rất ám ảnh trước những trang nhật ký của chị kể rằng, đơn vị bị địch bao vây, hết lương thực, chỉ còn vài hạt gạo nấu cho thương binh. Ông muốn biết vì sao trạm xá của chị không có lương thực? Vì bị bao vây hay bị bỏ mặc?

Tất cả những câu hỏi đó thôi thúc Robert tiếp tục hành trình “đi tìm Thùy”…

Tháng 8-2005, Robert cùng với gia đình chị Thùy Trâm trở lại nơi chị đã ngã xuống. Ông mang theo một tấm bản đồ quân sự của Mỹ, đánh dấu tất cả các tọa độ một cách chi tiết và khoa học. Trạm xá năm xưa nằm trong một cánh rừng già, trên đỉnh dãy núi thuộc xã Ba Trang, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, phải băng qua hồ Liệt Sơn chừng 6km, lúc bằng thuyền, lúc đi bộ, mới đến nơi.

Ngôi mộ chị Thùy Trâm nằm dưới bóng ba cây kơnia và lạ lùng là, mặc dù gia đình đã đưa hài cốt chị về Hà Nội từ năm 1976, nhưng bà con địa phương vẫn đắp đá cho ngôi mộ và thắp hương ở đó. Những người già trong làng vẫn nhớ “y tá Trâm”, nhớ cả vị trí chị từng an nghỉ và kể về những kỷ niệm như thể chị là người con của làng vừa mới đi đâu xa.

Robert chăm chú lắng nghe, ghi ghép từng chi tiết liên quan đến Thùy Trâm và cuốn nhật ký của chị.

Gần một năm sau, tháng 4-2006, Robert tiếp tục trở lại Việt Nam. Ông mong muốn có những tài liệu chính xác, để ông có thể viết lại câu chuyện “Đi tìm Thùy”, kể về nhân vật mà ông ngưỡng mộ. Ông muốn tìm những nhân vật mà chị Trâm viết trong nhật ký, gồm 5 thương binh, 2 y tá.

Nhưng 3/5 thương binh ấy đã hy sinh, còn một người không tìm ra tung tích và một người tuy còn sống nhưng vì lý do riêng nên không xuất hiện. Dò hỏi về 2 nữ y tá thì chị Lãnh cũng đã hy sinh, còn chị Xăng, khi đó vừa gặp một cú sốc lớn về tinh thần, nên Robert không khai thác được gì.

Cho mãi về sau, Robert vẫn không đủ cơ sở để giải mã được những suy đoán về các cá nhân được ghi trong nhật ký, xem đó có phải là ba người đi cùng chị vào ngày chị hy sinh hay không. Và ông đành gửi niềm hy vọng “trên đất nước Việt Nam biết đâu vẫn còn có những người vốn là bệnh nhân ở bên Thùy trong những ngày tháng sáu tuyệt vọng ấy, còn sống”.

Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Sau khi trở về Mỹ, Robert tiếp tục đến các nơi lưu trữ tư liệu để tìm các tài liệu liên quan đến chị Thùy Trâm. Ông nhiều lần vào Trung tâm Lưu trữ của Quốc hội Mỹ tìm nhưng vô vọng.

Một lần mệt quá, ông gục xuống thiếp đi. Lúc tỉnh dậy, ông nghĩ mình phải tìm thêm một lần nữa rồi thôi, thì bất ngờ chạm tay vào một cuốn phim chụp tư liệu chiến trường của quân đội Mỹ đã được số hóa.

Trong đó, ông thấy báo cáo chi tiết về trường hợp hy sinh của một nam thanh niên đi cùng chị Thùy, thẻ quân nhân ghi tên Nguyễn Văn Bối, quê Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây, hy sinh trùng ngày và địa danh chị Thùy ngã xuống.

Robert nhớ rằng, vào ngày 16-6-1970 chị Thùy viết: "Đọc những dòng nhật ký của Bối, một cậu học sinh trẻ quê ở Phú Xuyên, Hà Tây, mình cảm thấy xao xuyến trong lòng. Tâm sự của Bối cũng là tâm sự của mình…”.

Rất có thể người lính đã hy sinh và người lính trong nhật ký của Thùy Trâm là một. Robert vội vã gửi thư báo tin cho gia đình chị Đặng Thùy Trâm.

Lâu nay, gia đình liệt sĩ Bối cũng không có tin tức gì về anh, chỉ biết là mất tích. Thế là từ nguồn tin này, gia đình đã tìm được mộ liệt sĩ Bối, cách mộ chị Thùy 143m, mà trong tài liệu của Mỹ ghi cách 150m.

Ám ảnh vì cảnh đơn vị chị Thùy bị bao vây hết lương thực, Robert đã dành nhiều thời gian để tìm hiểu. Đầu tháng 3 - 2006, ông đã ngồi suốt 3 ngày trong Trung tâm Lưu trữ Quốc gia ở College Park, Maryland, để lục tìm các báo cáo của quân đội Mỹ.

Cuối cùng ông đã tìm được một bản báo cáo hành động (Action Report) ngày 23-6-1970 về việc lính Mỹ phát hiện một kho nhu yếu phẩm cho bệnh xá, chỉ cách nơi chị Thùy Trâm hy sinh chưa đầy 500m, với số lượng chi tiết về lương khô, thịt hộp trong hầm.

Công sức nhiều năm đi nhiều nơi, dày công tìm kiếm tư liệu trong các kho lưu trữ lớn của Robert đã giúp ông làm rõ sự thật về những ngày cuối cùng của chị Thùy.

Với những nỗ lực không mệt mỏi và những tình cảm chân thành Robert dành cho chị Thùy Trâm, ông đã có được những câu trả lời cho những day dứt bấy nay.

Đó là không phải chị Thùy chết vì bị phản bội, chị cũng không bị bỏ rơi, mà trước lúc chị hy sinh, đã có một đơn vị kịp thời tiếp tế cho bệnh xá cả thực phẩm, thuốc men và có lẽ cả pin cho chiếc đài Sony (một báo cáo quân sự ngày 22-6 của Mỹ cho biết tìm thấy xác một phụ nữ cùng chiếc túi y tế và một đài Sony).

Những cuộc tìm kiếm kiên trì cũng cho Robert biết được chính xác ngày chị Thùy hy sinh, khác với ngày ghi trên giấy báo tử.

Chưa dừng lại với những tư liệu khá chi tiết về con người chị Thùy Trâm, Robert còn cùng nhiều đồng đội truy tìm tên tuổi những cá nhân trong đơn vị đã xả súng vào chị Thùy – một người phụ nữ, lại làm công tác y tế.

Bởi như một quy ước quốc tế không thành văn, trong chiến tranh người ta không tấn công các cá nhân làm công tác y tế, đặc biệt là các nữ y tá, bác sĩ. Đó là một sự hèn hạ cần phải lên án. Sự kết nối, truy tìm ấy đã giúp các cựu binh Mỹ tìm ra được đơn vị đã tấn công và giết chị Thùy ngày ấy.

Chị Đặng Kim Trâm nghẹn ngào: “Robert hỏi gia đình tôi có muốn truy tìm tận mặt kẻ đã nã súng vào chị Thùy hay không. Nhưng chúng tôi không muốn đào sâu thêm nữa. Chiến tranh đã qua, những kẻ đó đã mang gánh nặng tội lỗi nửa thế kỷ nay rồi, người Việt Nam chúng ta  không đánh người chạy lại”…

Thanh Hằng

Các tin khác

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.

Từ con đường độc lập đến khát vọng vươn mình

Từ con đường độc lập đến khát vọng vươn mình

“Việt Nam thành công không chỉ vì đạt được thành tựu đáng chú ý, mà còn vì đã tìm ra con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn quốc gia”, Đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ chia sẻ. Còn với Đại sứ Liên minh châu Âu Julien Guerrier, trong 30 năm qua, mỗi lần ông đến Việt Nam đều cảm nhận sự đổi thay và tiến bộ rõ rệt...