Hàng Buồm lộng gió cửa sông

Vào giữa thập niên 80 thế kỷ trước, chúng tôi thường lui tới trụ sở Hội Văn nghệ Hà Nội ở 19 Hàng Buồm (phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội). Cánh viết văn trẻ ở Hà Nội ngày đó rất mê tờ Báo Người Hà Nội.

Tôi quen nhà thơ Tô Hà (1939-1991), một biên tập thơ khó tính nhưng rất hiền hậu. Có lần ông mắng tôi vì cái tội cứ nghĩ nhà thơ Nguyễn Bính đã làm mấy câu: "Anh đi đấy? Anh về đâu?/ Cánh buồm nâu... cánh buồm nâu... cánh buồm" tại bến Giang Khẩu đầu phố Hàng Buồm ngày xưa. Thế rồi ông kể chuyện tôi nghe.  

Phố dọc sông Tô

Phố cổ Hàng Buồm (phường Hà Khẩu) hình thành từ thời Lê - Trịnh (1553-1788) trên nền tảng hồn cốt ngàn năm của Đền Bạch Mã (số nhà 76). Đầu phố nằm ngay trên bến cửa sông Tô nối với sông Hồng chảy về đường Nguyễn Siêu hiện nay (phía sau dãy số nhà chẵn Hàng Buồm). Các cửa hàng dọc bờ sông buôn bán chủ yếu là bị cói, buồm vải, mành, lưới, gió và cột thuyền… Phía sau Đền Bạch Mã còn có chợ Bạch Mã nhộn nhịp suốt ngày đêm.

Chợ ngày càng đông vui từ khi người Quảng Đông tràn tới buôn bán hàng trăm mặt hàng mới lạ. Vào cái đận đó (giữa thế kỷ 19) những người Hà thành bán buồm, lưới và các đồ cói thất cơ lỡ vận dạt về mấy phố lân cận. Các thương nhân người Hoa xây dựng nhà cửa và Hội quán rất đình đám. Hàng Buồm dài tới 300 mét nhiều quán hàng ăn Quảng Đông thu hút khách tấp nập ngày đêm. Đặc biệt, món thịt quay nổi tiếng vẫn được con cháu họ giữ nghề cho tới ngày nay.

3-phố hàng buồm xưa.jpg -0
Phố Hàng Buồm xưa.

Tuy phố Hàng Buồm được mở mang phồn thịnh bậc nhất ngày đó nhưng người Hoa lại luôn gìn giữ và tôn trọng hương lễ Đền Bạch Mã (76 Hàng Buồm). Đây là di trấn kinh thành phía Đông được xây dựng từ thời nhà Đinh (Bạch Mã tối Tứ Linh). Do quy định của triều đình qua các niên đại, dần dần người Hoa đã được Việt hóa. Họ sống, tuân thủ pháp luật và các nghi lễ tâm linh nên hòa đồng với văn hóa bản địa.

Hơn nữa, Đền Bạch Mã linh thiêng được coi là vũ trụ thần linh của người Việt án ngữ tạo nên chân đế vững mạnh cho đến nay. Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, một vị thần gốc của Hà Nội cổ và đã được nhiều đời vua tu sửa và tôn tạo. Cùng với biểu tượng thần Ngựa trắng, đền được coi là một di sản kiến trúc tâm linh độc đáo. Sự uy nghiêm của Đền Bạch Mã như một biểu tượng thể hiện sức mạnh dựng nước và giữ nước của ông cha ta hàng ngàn năm qua. 

Đường phố Hàng Buồm men theo dòng sông Tô từ Chợ Gạo tới ngã tư Hàng Ngang - Hàng Đường và Lãn Ông. Ngã phố ấy tạo nên trục thương mại từ bến bãi Hà Khẩu kết nối với chợ Cầu Đông. Hình ảnh kẻ chợ rộn ràng được ghi lại trong ca dao: "Ngày đêm trên bến dưới thuyền/ Phố vui tấp nập bon chen bất thường/ Mặt ngoài có phố Hàng Đường/ Hàng Mây, Hàng Mã. Hàng Buồm, Hàng Chum/ Tiếng Ngô tiếng Nhắng um um/ Lên lầu xem điếm tổ tôm đánh bài…". Có lẽ vì thế chăng nên tôi luôn có mặc cảm rằng nhà thơ Nguyễn Bính đã tới ngã Hàng Buồm này và tức cảnh: "Hôm nay dưới bến xuôi đò/ Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau...". Hóa ra không phải, nhà thơ Tô Hà giải thích thi sĩ Nguyễn Bính mãi tới năm 1918 mới ra đời mà trong khi đó thực dân Pháp đã cho lấp sông Tô Lịch (làm đường Nguyễn Siêu) từ năm 1889. 

Hàng Buồm đã mất nghề bán lưới, bán buồm, còn mất cả bến bãi nhộn nhịp sông nước ngày nào. Không ít nhà thơ đã nhớ đến cảnh xưa bến cũ nên viết: "Hàng Buồm chẳng còn cánh buồm/ Thuyền đậu nơi nào em đến/ Sông Hồng cách xa biền biệt/ Bãi ngô cát trắng mùa xuân" (Thái Thăng Long). Riêng nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú tôi đoán chắc cũng đã từng ám ảnh cánh buồm nâu một thuở Nguyễn Bính nên đã viết: "Hàng Buồm vắng cánh buồm nâu/ Hay buồm em đem giấu/ Để ta neo đến bạc đầu" (Hàng Buồm). Còn tôi vẫn cứ thẫn thờ với những ô cửa tò vò trên những mái nhà xanh rêu đầu phố. Cô bé ngày xưa ấy e thẹn mà chỉ "Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau". Và đó chính là hồn phố mà tôi thường mơ tìm về những ô cửa thầm kín đó đây.

Mơ đời chiến sĩ

Vào thời kỳ Đổi mới, nền kinh tế thị trường manh nha phát triển, Báo Người Hà Nội là nơi thu hút những cây bút giỏi nhất của Thủ đô. Chúng tôi càng hồ hởi mỗi khi tới ngôi nhà số 19 Hàng Buồm để hóng chuyện của nhà văn Tô Hoài. Cái duyên ông kỳ lạ lắm, cứ thủ thỉ nhẹ nhàng thấm ngọt từng lời. Lần ấy nhà văn chỉ sang số nhà 26 rồi nói đó chính là bệnh viện dã chiến của Trung đoàn Thủ đô hồi 1947. Sau đó, ông đọc mấy câu thơ của một chiến sĩ in trên Báo Vệ quốc đoàn ngày đó. Những câu thơ mang hơi hướng kiêu hùng lãng tử: "Mùa xuân đi không tiếc nửa đời hương/ Em lòng ơi giữ lấy giấc mơ hường/ Ai mải miết một trời son phấn/ Ta hùng anh lừng hát tiến lên đường" (Mạc Tần). Rồi ông cho biết đây chính là linh hồn, cái tứ cho nhạc sĩ Lương Ngọc Trác sáng tác ca khúc mới động viên chiến sĩ Thủ đô.

1-đầu phố hàng buồm.jpg -0
Đầu phố Hàng Buồm.

Tôi đã từng nghe có lần nhạc sĩ Lương Ngọc Trác bộc bạch, khi bị thương trong trận đánh ở Hàng Hòm, ông được khênh về binh trạm số 26 phố Hàng Buồm (2/1947). Những câu thơ của Mạc Tần tình cờ ông đọc được trên giường bệnh đã tạo dựng hình tượng âm nhạc để khởi phát cho giai điệu "Mơ đời chiến sĩ". Những câu nhạc đầu tiên được viết ra trong tiếng súng vang lên từ mặt trận chợ Đồng Xuân. Khói lửa còn cháy lan cả vào bệnh viện. Tới năm giờ chiều bài hát đã hoàn tất. Mặc cho đôi chân bị thương, nhạc sĩ Lương Ngọc Trác đã đứng bật dậy lưng tựa vào tường và cất tiếng hát. Các chiến sĩ trên giường bệnh đều say sưa lắng nghe lời ca: "Mùa xuân đi in dấu hằn đau thương/ Em lòng ơi giữ lấy giấc mơ hồng/ Ai mải miết cuộc đời quen êm ấm/ Ta ra đi cùng tiếng hát trên đường…". Một nhịp điệu hành khúc thôi thúc những chiến sĩ lên đường ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946). Không khí thật sôi sục mãnh liệt, phơi phới thanh xuân.

Hàng Buồm còn có một kỳ nhân mà ít người biết tới nhưng anh em văn nghệ thì không lạ gì. Đó chính là quái kiệt Bổng "Hàng Buồm" ở số nhà 93. Sinh thời ông như một cái bóng thoắt ẩn thoắt hiện khi tiếp xúc với những nhà văn hay họa sĩ đường thời. Ông luôn nhặt nhạnh và thu gom những bản thảo viết tay hoặc những bức tranh còn chưa hoàn thành.

Lẽ dĩ nhiên ông Bổng còn sưu tầm cả những tác phẩm hoàn chỉnh nhưng đa phần là di sản sót lại của các nhà văn nhà thơ hay họa sĩ. Ông có thể ngồi lì hàng ngày bên họa sĩ Bùi Xuân Phái đề chờ nhặt những bức tranh hỏng đã bị ông Phái vò xé rồi vứt vào sọt rác. Vậy mà ông Bổng thu gom về rồi là phẳng hay dán lại những bức tranh rác ấy rồi nửa đêm mò đến nhà Bùi Xuân Phái xin chữ ký. Chính vì thế mà Bổng "Hàng Buồm" có nhiều tranh của ông Phái nhất. Sau đó là tranh của Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng; thậm chí cả tranh Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn và Văn Cao.

Hơn nữa, Bổng "Hàng Buồm" còn có duyên với những bản thảo viết tay và bút tích của các văn sĩ. Nào là Phùng Quán, Hoàng Cầm, Trần Dần… đều có cả. Trong số đó tư liệu, bản thảo và bút tích của nhà văn Nguyễn Tuân là một kỷ lục. Sau này ông Bổng không biết bằng cách nào còn gom được 20 bản thảo của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Điều thú vị nhất là khi kỷ niệm 45 năm thành lập, Báo Văn nghệ đã phải mượn ông Bổng hàng chục bản in kẽm tác phẩm của tất cả các họa sĩ đã vẽ minh họa cho báo. Nghĩ giỏi đến thế là cùng.

Non xanh xanh nước xanh xanh

Giờ phố Hàng Buồm nằm trong vùng phố đi bộ cuối tuần. Không gian bến đò ô cửa tò vò như vẫn còn đâu đó làm con phố đượm nét hoài cổ hoang liêu mỗi khi hoàng hôn dịu lắng. Cho dù nhà Hội Quán người Hoa (số 22 Hàng Buồm) đã trở thành Trung tâm nghệ thuật thành phố nhưng vẫn còn đó Đền Quán Đế (số nhà 28), đình Hàng Thịt (số 8) và đặc biệt là Đền Bạch Mã.

Bến nước con đò xưa nay còn đâu nhưng các di sản còn lại luôn lung linh ánh sáng rực rỡ của Thăng Long ngàn năm. Những đêm cuối tuần các đào nương đã tới hát cùng với nhịp phách xốn xang một thuở. Đó là âm sắc gợi nhớ những ký ức kỳ vĩ của văn hóa ngàn năm. Không gian sân Đền Bạch Mã đêm về mênh mang cùng sóng nhạc ngày xưa: "Hồng hồng, Tuyết tuyết/ Nhớ ngày nào chửa biết cái chi chi/ Mười lăm năm thấm thoát có xa gì/ Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu…".

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).