Hai cuốn tiểu thuyết về chiến tranh - hai cách viết khác biệt

Là một người lính từng kinh qua chiến tranh chống Mỹ, nhà văn Lê Hoài Nam luôn có khao khát mãnh liệt là viết về những gì mình chứng kiến và trải qua. Ông cũng đã thể hiện một phần vốn sống chiến trường trong tiểu thuyết "Hạc hồng", giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 5, 2016 - 2020 của Hội Nhà văn việt Nam.

Gần đây nhất, ông xuất bản hai cuốn tiểu thuyết: "Khắc tinh với thần chết", in năm 2023, giải thưởng 5 năm của Bộ Quốc phòng (2020 - 2025) và "Thanh xuân như cỏ", in năm 2024, giải thưởng cuộc vận động sáng tác và quảng bá tác phẩm VHNT hướng tới kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam 1975 - 2025 do UBND thành phố Hồ Chí Minh trao tặng. Đây là minh chứng thuyết phục cho tài năng và sự nghiêm túc trong lao động nghệ thuật của ông.

Hai cuốn tiểu thuyết về chiến tranh - hai cách viết khác biệt -0
Nhà văn Lê Hoài Nam.

Lệ thường, khi một tác giả viết hai tiểu thuyết cùng một đề tài trong một khoảng thời gian gần nhau như vậy, rất dễ ảnh hưởng nhau, nếu không phải là kết cấu, kiểu nhân vật thì cũng ảnh hưởng hơi hướng giọng văn. Tuy nhiên, ở Lê Hoài Nam, thì trái lại, mỗi cuốn là một phong cách viết từ nội dung đến hình thức nghệ thuật.

Ở "Khắc tinh với thần chết", nhà văn viết về bối cảnh diễn ra vào những năm 1972 - 1973 tại khu V, một trong những chiến trường khốc liệt nhất trong kháng chiến chống Mỹ. Tác phẩm đã tái hiện chân thực và sống động cuộc chiến cam go, quyết liệt giữa đại đội bộ binh quân Giải phóng và lực lượng hỗ trợ của quân dân địa phương, chống lại liên quân Mỹ, ngụy Sài Gòn, và cả quân Park Chung Hee. Trong điều kiện gian khổ tột cùng, thiều thốn trăm bề, những người lính vẫn kiên gan bám trụ, "bám thắt lưng địch mà đánh" chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ từng tấc đất quê hương.

Nhà văn đã mượn hình thức ghi nhật ký của nhân vật chính Phạm Hữu Thẩm - một chiến sĩ trẻ có năng khiếu văn chương và vốn hiểu biết sâu rộng - làm cho khung cảnh chiến trường hiện lên "như nó vốn có". Tác giả miêu tả cuộc đối đầu sinh tử giữa hai bên trong thế hoàn toàn đối lập: Bộ đội ta thì vũ khí thô sơ, lực lượng mỏng, thiếu thốn đủ thứ, ăn uống kham khổ, đói khát triền miên, dân bị dồn vào ấp chiến lược nên không còn chỗ dựa. Trong khi quân địch đông gấp nhiều lần quân ta, trang thiết bị, vũ khí hiện đại, đồ ăn thức uống đầy đủ.

Những trận chiến đầy cam go quyết liệt giữa hai bên, trận nào cũng đầy những thương vong. Có lúc, những xác chết chồng chất ngổn ngang, không kịp chôn, người lính còn tự đào huyệt trước cho mình. Riêng đại đội 2, khi hành quân vào đây quân số là 75, hiện chỉ còn 32 người. Nhưng cũng không thể sánh được với tiểu đoàn 11: cách đây 3 ngày họ đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng… và chấp nhận hy sinh gần hết cả tiểu đoàn" (tr. 93).

Bộ đội ta đói đến mức bất cứ cái gì có thể ăn được, họ đều miễn cưỡng đưa vào miệng để qua cơn đói. Song ghê rợn nhất là cảnh những người lính phải vác súng ra khu nghĩa địa bắn cả quạ và kền kền - hai loài chim chuyên rỉa xác người thối rữa - để làm thức ăn.

"Thịt quạ hôi thật nhưng còn dễ nuốt; kền kền thì vừa tanh khẳm, vừa gây đến mức có người chỉ ngửi hơi đã nôn thốc nôn tháo. Có anh vừa bịt mũi vừa cố nhai nuốt. Mà cái món thịt kền kền và thịt quạ rất khó tiêu. Đêm ấy anh nào cũng đi phóng uế, bốc hơi như xác chết" (tr. 102).

Cơn đói, cơn khát đã trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với các nhân vật và cả bạn đọc. Tuy nhiên, trong cuộc chiến khốc liệt ấy, giữa môi trường, bom đạn tàn phá đến cây cỏ cũng không còn sống được ấy, vẫn có tình yêu trai gái nảy nở như những cặp: Vũ Triền Sông - Kim Huệ, Phạm Hữu Thẩm - Kơ Niel; Cò - Hai Huê… Họ yêu nhau cao thượng, lãng mạn và mãnh liệt đã làm cho cuốn tiểu thuyết có sức cuốn hút mạnh mẽ và mang nhiều  giá trị nhân văn.

Hai cuốn tiểu thuyết về chiến tranh - hai cách viết khác biệt -1
Trang bìa các tác phẩm của nhà văn Lê Hoài Nam.

Còn tiểu thuyết "Thanh xuân như cỏ" lại kể về những người lính trẻ thuộc Lữ đoàn pháo cao xạ, tham gia chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội mùa đông năm 1972, khi không quân Mỹ ồ ạt ném bom nhằm "biến Hà Nội thành đống gạch vụn". Sau những thất bại nặng nề, Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán và ký Hiệp định Paris (tháng 1 năm 1973). Mùa xuân 1975 họ nhận lệnh hành quân vào Nam tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Tiểu thuyết tập trung khắc họa những biến cố xảy ra trên đường cho đến khi chiến dịch 30 tháng 4 kết thúc.

Nếu "Khắc tinh với thần chết" là bức tranh dữ dội, tàn khốc và bi thương về chiến tranh, thì "Thanh xuân như cỏ" lại mang đến một sắc thái dịu dàng, lãng mạn, giàu chất thơ và thấm đẫm tình người. Dù viết về cảnh vật, con người hay những trận đánh thì văn phong vẫn nhẹ nhàng, cảm xúc sâu lắng, khác hẳn với hiện thực khốc liệt, văn chương ngổn ngang chất liệu, mạnh mẽ như trong "Khắc tinh với thần chết". 

Cuộc hành quân của đại đội pháo phòng không đi qua nhiều vùng chiến địa hoang tàn đổ nát. "Từ Quảng Bình trở vào đâu đâu cũng thấy hố bom, hố đạn pháo. Tới Dốc Miếu, Cồn Tiên, Khe Sanh… xác xe tăng, xe tải, xe kéo pháo nằm ngổn ngang, nhiều xe đã hoen gỉ, cỏ dại phủ kín. Những ngôi nhà bị thiêu cháy, còn trơ lại những cây cột, cái kèo đen thui. Làng mạc hoang vắng, phong cảnh tiêu điều, thỉnh thoảng mới nhìn thấy một bóng người dân, trông héo hắt, lam lũ bước vội…".

Đại đội pháo, quá nửa là những tân binh, tâm hồn còn phơi phới những ước mơ khát vọng, hồn nhiên, tinh nghịch, có sức sống tươi non như cỏ và cũng mãnh liệt như cỏ. Trên chặng đường hành quân đầy những gian nan thử thách, có cả những sai lầm, vấp váp, nhưng họ đã dần trưởng thành, vững chãi lên. Họ gặp gỡ với những nữ chiến sĩ của tiểu đoàn thông tin, của đại đội vận tải, biết bao nhiêu chuyện đã diễn ra: chuyện vui, chuyện buồn, chuyện nào cũng để lại kỷ niệm mà hẳn sẽ suốt đời đi theo họ.

Nguyễn Tiến Lợi và Nguyễn Thị Sự quê cùng làng, cùng nhập ngũ một ngày. Họ tỏ tình với nhau vào cái đêm chia tách mỗi người về một đơn vị. Đó là mối tình đầu còn nhiều e lệ, bỡ ngỡ nhưng trìu mến, đắm say. Đơn vị Sự hành quân trước. Khi đại đội pháo của Lợi vượt lên gặp đơn vị hậu cần của Sự thì Lợi và đồng đội đã phải dàn hàng ngang viếng mộ Sự trong đớn đau. Sự hy sinh vì vấp phải một quả mìn bên lối đi khi qua suối. Lợi nén thương đau tiếp tục hành quân cùng đồng đội.

Những người lính pháo lại gặp những chiến sĩ vận tải người dân tộc làm nhiệm vụ dọc đường mà không nhận ra họ là nam hay nữ vì sự gian khổ ở chiến trường đã làm họ biến dạng. Chiến sĩ nam thì để tóc dài như con gái. Chiến sĩ nữ thì gùi gạo nhiều, quai gùi làm cho bộ ngực họ lép như ngực con trai khiến những pháo thủ vừa từ Bắc vào không khỏi ngậm ngùi. Nhưng họ không được phép ủ mãi nỗi buồn. Để có sức mà chiến đấu, họ bày ra đủ trò, như chuyện lấy trộm áo ngực của những nữ quân nhân mang vào bản đổi lấy thức ăn. Những mẩu chuyện nhỏ nhặt ấy vừa hài hước, vừa chân thật, có khi cười ra nước mắt.

Những trận đánh ác liệt ở cửa ngõ Sài Gòn, nhất là trận đấu pháo giữa ta và địch thật là ấn tượng. Không ít những người lính trẻ đã hy sinh ngay trước lúc Sài Gòn giải phóng. Họ hy sinh cũng hồn nhiên như họ sống. Cỏ lại trở thành tấm thảm xanh biếc trang trí cho nấm mồ của họ. Họ mãi "Thanh xuân như cỏ", đúng như ý nghĩa nhan đề của tác phẩm.

Một lần tôi hỏi nhà văn Lê Hoài Nam, rằng trong cách xây dựng nhân vật, ông có dựa vào nguyên mẫu nào không mà tôi cảm nhận một số nhân vật của ông như đang sống ngoài đời thì nhà văn nói: Khá nhiều nhân vật trong những tiểu thuyết và truyện ngắn của tôi lấy nguyên mẫu từ những nhân vật có thực ngoài đời.

Chẳng hạn như tỉnh đội trưởng Nguyễn Thượng Đường trong tiểu thuyết "Hạc hồng", (ngoài đời chính là Thượng tá Nguyễn Thượng Trung, tỉnh đội trưởng tỉnh đội Nam Hà thời chiến tranh); Trung úy Phạm Hữu Thẩm trong tiểu thuyết "Khắc tinh với thần chết" (ngoài đời thực anh này là Trung úy tiểu đoàn phó Phạm Hữu Thậm); còn trong tiểu thuyết "Thanh xuân như cỏ", có ba nhân vật Lê Hoài Nam giữ nguyên xi tên thật ngoài đời như chiến sĩ Nguyễn Tiến Lợi, chiến sĩ Nguyễn Thị Sự, bác sĩ Tôn Thất Tùng…

Tất nhiên, khi đưa họ vào tác phẩm, ông phải dùng nguyên lý nghệ thuật sáng tác để làm cho họ trở thành những con người sống động, lấp lánh lên, lưu lại trong trí nhớ bạn đọc. Với quan niệm "không giẫm lên vết chân mình, cũng không giẫm lên vết chân người khác", nhà văn Lê Hoài Nam đã chọn cho mình một lối đi riêng khi viết về chiến tranh. Mỗi tác phẩm là một góc nhìn về người lính và một cách thể hiện. Cả hai đều đáng đọc và suy ngẫm, nhất là lớp trẻ hôm nay sẽ thấu hiểu hơn về một thời kỳ lịch sử kỳ vĩ của dân tộc.                                                                     

Bắc Từ Liêm, tháng 6 năm 2025

Phạm Thị Hường

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).