(Nhân đọc “Ở lại để chờ nhau”, tập truyện của Hồ Anh Thái, NXB Thế giới, 2020)

Gọi về những miền ký ức

“Ở lại để chờ nhau”, tập truyện ngắn mà như hồi ký, mà như tiểu thuyết – những lát cắt ký ức về Ấn Độ, về thời gian ở Ấn Độ, nhất là thời sinh viên. Tự do trong miền ký ức với những câu chuyện có thật, những mảnh đời.

Ai từng là sinh viên, đọc các câu chuyện này có thể thấy mình ở đó. Ai từng là sinh viên ở Ấn Độ càng thấy mình ở đó, quen thuộc, gần gũi và đồng điệu. Với ai chưa từng tới Ấn Độ, cuốn sách là một lời mời gọi, một hứa hẹn sẽ được đến với nền văn hóa vĩ đại của hàng nghìn năm trước, kỳ lạ, cuốn hút, vô cùng đẹp đẽ.

Hai mươi truyện ngắn. Mở đầu với một anh chàng sinh viên nổi tiếng cả trường về chuyện vay tiền không trả, nhưng nhiều năm sau đã đi tìm bạn bè ở các nước để trả món nợ học trò. Kết thúc bằng vốc nước trong lòng bàn tay vớt lên từ sông Hằng linh thiêng của Ấn Độ đến dòng Potomac tận bên Mỹ. Từ Ấn Độ tỏa ra thế giới. Vốc nước sông Potomac có thể nhuốm màu linh thiêng của vốc nước sông Hằng.

Tình yêu đối với Ấn Độ

Văn hóa Ấn Độ, đặc biệt là con người Ấn Độ trong mắt của một người yêu – “yêu nhau yêu cả đường đi lối về” (ca dao), “một thứ ma lực hút ta vào và đời ta mãi mãi không thể nào bình yên được nữa” (tr. 97). Một thứ ma lực có thể khiến cho cậu sinh viên người Đức biến mình thành một người Ấn, lấy tên Ấn, mặc quần áo Ấn, lấy vợ Ấn và hơn thế, thành một người Bà La Môn sùng đạo. 

Nếu như ma lực đó được biểu tượng hóa một cách hài hước trong truyện “Cuộc đổi chác” thì nó lại hiện ra với chất liêu trai trong truyện “Họ ở lại để chờ nhau”. Cậu sinh viên người Ý đi Ấn Độ, trở về và dường như lại đi nữa. Đến với tình yêu của mình, tình yêu Ấn Độ và người con gái đang ở đó. Một cô gái Pháp lấy chồng Ấn theo chồng về Ấn Độ rồi ly dị mà vẫn không rời Ấn. Và dường như là chờ đợi chàng người Ý quay lại. Không rõ đối với chàng người Y,Á tình yêu nào mạnh hơn: Ấn Độ hay là cô gái? Và cô gái Pháp ở lại Ấn Độ vì tình yêu Ấn Độ hay để chờ chàng người Ý của mình? Có thể sức hút lạ lùng ấy là do đặc trưng văn hóa Ấn Độ.

Bìa tập truyện “Ở lại để chờ nhau” của nhà văn Hồ Anh Thái.
Bìa tập truyện “Ở lại để chờ nhau” của nhà văn Hồ Anh Thái.

Tập truyện phác họa nhiều bức chân dung người Ấn, có cái chấm phá có cái đậm nét, có cả biếm họa và những bức chân dung tuyệt đẹp về phụ nữ Ấn mạnh mẽ và đàn ông Ấn dịu dàng. Một cô giáo trẻ từ bỏ tấm áo sari truyền thống như là một tuyên ngôn thầm lặng về tự do và một thầy giáo chưa già từ bỏ lợi lộc nghề nghiệp để chăm sóc người vợ mắc bệnh hiểm nghèo (truyện “Chia lìa”). 

Đẹp nhất, có lẽ là chân dung một gia đình người Ấn giúp đỡ cô gái Việt Nam trong truyện “Không ra nước mắt” và đặc tả người con trai trong gia đình ấy ở truyện “Đàn chó hoang ăn chay”. Hai câu chuyện đẹp như huyền thoại về lòng nhân hậu được Hồ Anh Thái kể một cách bình dị.

Đó là người Ấn đẹp. Hồ Anh Thái cũng có vài bức biếm họa về tính cách Ấn, trong đó một nét tính cách nổi tiếng được nhà văn lột tả có phần trìu mến, là chuyện người Ấn chỉ đường sai và hứa hẹn ngày mai ở truyện “Shame”. 

Khỏi phải nói, người nước ngoài tức tối, giận dỗi thế nào với cái kiểu chỉ đường bừa phứa và hứa hẹn ngày mai không bao giờ đến ấy. Nhưng câu xác nhận của chính người Ấn sẽ làm bạn dịu lại: “Người Ấn là thế đấy, chỉ muốn làm người khác vui khi đối diện, còn sau đấy người ta có tức điên lên vì bị lừa thì cũng mặc. Họ không coi đấy là lừa. Đấy chỉ là làm cho người khác vui lòng” (tr. 158). 

Hoài niệm về tuổi trẻ

Có cảm tưởng là Hồ Anh Thái đã kịp viết lại câu chuyện về các bạn sinh viên của mình trong những khoảnh khắc hồi tưởng như thế, sống động và cuốn hút. Những người bạn đến từ nhiều nước, dù rất khác biệt về văn hóa và tính nết nhưng đọng lại trong ký ức là sắc màu trong sáng của tuổi trẻ và tình yêu con người. Chất sinh viên đậm đặc, nghèo về tiền bạc nhưng giàu về cảm xúc, thẳng thắn và quyết liệt trong lựa chọn, trong thể hiện thái độ và nhận biết bản thân mình.

Nói đến tuổi trẻ không thể không nói đến lựa chọn – lựa chọn cách sống, lựa chọn lý tưởng, lựa chọn tình yêu. Có lựa chọn thật khó khăn và phải vận dụng hết công lực của lý trí để nói ra sự thật hay không nói, như lựa chọn của người bạn Trung Hoa tốt bụng, dễ mến trong truyện “Chưa gặp lại”. 

Sự kiện Thiên An Môn là một bối cảnh để sinh viên bộc lộ thẳng thắn quan điểm và đánh giá của mình trong lựa chọn trên cơ sở thông tin bị che giấu và thông tin được công bố. Vấn đề là tin hay không tin, nói hay không nói, “qua sông chặt gãy cầu” hay trở về. Câu chuyện được kể kìm nén như thể nếu để kịch tính bung ra như thực tế thì cảm xúc sẽ bị cơn giận làm cho mờ tối sự tỉnh thức. 

Có lựa chọn có vẻ nhẹ nhàng, đương nhiên, không cần suy nghĩ như lựa chọn của đôi thanh niên Tây Tạng, yêu nhau và cùng nhau đấu tranh cho Tây Tạng trong truyện “Trên cao” – một câu chuyện đầy chất thơ về mảnh đất được gọi là nóc nhà thế giới, về những người lưu vong không nguôi nhớ và không quên văn hóa của mình.

Có lựa chọn thật chóng vánh nhờ trái tim dẫn lối như lựa chọn của anh bạn người Đức trong truyện “Cuộc đổi chác”. Bên cạnh bức tranh hài hước về cuộc tranh đấu của hai sinh viên cùng phòng khác nhau về thói quen sinh hoạt, nổi bật lên sự phẫn nộ đẹp đẽ của tuổi trẻ. 

Câu chuyện đấu giá các vũ nữ devadasi – những thiếu nữ được bán khoán cho nữ thần Yellamma Renuka – làm cho người đọc nghẹt thở. Cái đẹp bị giày vò đã làm cho hai chàng sinh viên nổi máu hiệp sĩ – giữa đường dễ thấy bất bằng mà tha.

Cuốn sách có nhiều câu chuyện có nút thắt cao trào kịch tính có thể dựng thành phim như thế.

Một cái tôi trữ tình

Thấp thoáng một tình yêu, một người thích được chiêm ngưỡng các nền văn hóa, một người mê điện ảnh, một người thích đọc, một người ham viết, một tấm lòng bao dung. Có lẽ đây là cuốn sách Hồ Anh Thái mở lòng nhất về mình - một Hồ Anh Thái rất đỗi dịu nhẹ bước qua những mảng màu sáng tối, bao dung và suy tư, giữa bay bổng lãng mạn và thực tế trần trụi.

Phải rất nâng niu vẻ đẹp tâm hồn mới vẽ được bức tranh tương phản về hai mẫu đàn ông Ấn như trong truyện “Chia lìa”. Một được thừa hưởng văn hóa của hồi môn, vợ phải phục vụ chồng và luôn ồn ào hào nhoáng. Một cũng trong nền văn hóa ấy nhưng đặt người đàn bà mình yêu lên trên sự nghiệp một cách lặng lẽ, bình dị. 

Phải rất nâng niu vẻ đẹp tâm hồn mới có thể kể thật nhẹ nhàng về “một đàn chó hoang ăn chay”, chó hoang nhưng được làm bạn, được cho ăn, được đặt tên, được vào nhà thăm bạn ốm và được chào khách quý. Kể về chó, về công, về khỉ, về bò và tuyệt nhiên không có một chữ yêu thương, nhưng câu chuyện là biểu tượng về một tình yêu thương vô bờ bến. 

Ngôn ngữ kiệm lời, tối giản. Người ta không đọc giữa hai dòng chữ mà chữ tự đóng dấu ấn vào cảm xúc để cảm xúc tuôn trào. Tiết giảm tối đa câu chữ. Tiết chế cảm xúc như sợ nó buột ra làm ngập lụt ý tưởng. Cứ thỉnh thoảng, như giật mình, tác giả lại nói theo kiểu “tôi sẽ không sa vào công thức cải lương, sẽ không kể những đắm say dập dìu. Cũng không kể những nhớ nhung khắc khoải” (tr. 226). Có lẽ, cái kiểu tiết chế cảm xúc ấy lại thành ra một nét duyên trong cái tôi trữ tình của Hồ Anh Thái – không có mà có đấy, không yêu mà yêu đấy, không nhớ mà nhớ đấy – một tấm màn sương liêu trai.

Đến một lúc nào đó, trong cái hăm hở trở về quá khứ, bỗng tác giả dừng lại. Một chút lo ngại khi phải nhìn thấy “mắt búp sen mũi dọc dừa tiếng Anh trong vắt” theo thời gian đã trở thành “mắt sâu mũi nhọn đúng kiểu phù thủy”. Sợ bị nhìn thấy tóc xoăn dày bồng bềnh thành lưa thưa phải cạo trọc. Truyện “Cho thêm” là một nốt nhạc trầm suy tư về thời gian. “Mỗi người trong chúng ta đều phải được thời gian cho thêm một cái gì đó. Ngoài ý muốn” (tr. 168) – một cái mũi phù thủy hay con quạ hói đầu, hay một tính khí nóng nảy hơn. Âu cũng là tự nhiên vì hoài niệm hay đi cùng tiếc nuối một thời.

Có lẽ đọc xong cuốn sách, người ta sẽ muốn làm một chuyến đi, trở về Ấn Độ, tìm lại những miền ký ức bị bỏ quên ở đó, hay tới Ấn Độ để trải nghiệm về một niềm đam mê, một nỗi nhớ quay quắt, một thứ ám ảnh có thể làm bạn héo hon khi rời xa.

Văn Thị Thu Hà

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).