Ghé Xuân La tìm lại tuổi thơ

Tâm sự với khách về cái "chốn tổ" tò he Xuân La đầy thiêng liêng của mình, nghệ nhân Ưu tú Đặng Bá Hạ cho hay, vào cái thuở "ngày xửa… ngày xưa", làng thuộc tổng Phượng Dực, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng. Ngày nay, Xuân La thuộc xã Phương Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội. 

"Tò he cụ bán mấy đồng
Con mua một cái cho chồng con chơi
Chồng con đánh vỡ đánh rơi
Con mua cái khác con chơi một mình"     
      

                          (Đồng dao Bắc Bộ)

Tâm sự với khách về cái "chốn tổ" tò he Xuân La đầy thiêng liêng của mình, nghệ nhân Ưu tú Đặng Bá Hạ cho hay, vào cái thuở "ngày xửa… ngày xưa", làng thuộc tổng Phượng Dực, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng. Ngày nay, Xuân La thuộc xã Phương Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội. 

Kể về tuổi đời của làng nghề nơi mình chôn nhau cắt rốn, lão nghệ nhân già ấy tâm tình, căn cứ vào những tư liệu lịch sử để lại, các nhà khoa học đã khảo cứu ra rằng, nghệ thuật nặn tò he truyền thống ở Xuân La ra đời cách nay đã gần 400 năm. Bảo rằng, tuổi đời làng nghề tò he truyền thống Xuân La chả còn trẻ trung gì nữa là thế.

nghệ nhân ưu tú đăng văn hạ.jpg -0
Nghệ nhân Ưu tú Đăng Văn Hạ.

Lặng phắc trong chốc lát, bất giác nghệ nhân Đặng Bá Hạ bồi hồi nhớ lại, không phải ngay từ lúc mới "khai sinh" cái nghề nặn bột thành hình những nhân vật lịch sử trong và ngoài biên giới. Và, những trái cây, chim muông; đủ loại những con giống… ở làng Xuân La đã mang tên "tò he" đâu. Rồi thì lão nghệ nhân cất giọng ngâm nga bằng cái lối lẩy Kiều cổ kính, rằng: "Thứ nhất bánh đa, thứ nhì bánh cuốn, thứ ba chim cò".

Người Sơn Nam Thượng thuở ấy có câu truyền miệng như trên là bởi, vào thời "bình minh" của làng nghề, những sản phẩm tò he "chim cò" kể trên của làng Xuân La được sử dụng vào việc cúng lễ tại gia; tại hội lễ của trong và ngoài làng Xuân La. Không dừng lại ở đó, chúng còn xuất hiện tại những phiên chợ quê nổi tiếng thuộc vùng Sơn Nam Thượng. Thế nên những con vật ấy được gọi là "đồ chơi chim cò". "Chim cò" được chế bằng bột thành ra ăn được.

Với  tâm hồn lãng mạn đầy phong phú và một khả năng sáng tạo đặc biệt mà trời ban tặng riêng có cho mình ngay từ cái thuở "ban đầu lưu luyến ấy", không chỉ tạo nên những sản phẩm "đồ chơi chim cò" mà người Xuân La còn "hô biến" những món bột màu truyền thống của mình thành nải chuối, quả cau, chân giò, đĩa xôi... Những sản phẩm đó tạo thành mâm cỗ để người Xuân La thành kính dâng cúng tại đình, chùa. Sản phẩm này có màu sắc tương đối giống đồ thực và có pha thêm chút đường nên ăn được. Và người ta gọi chúng là "con bánh". 

Thời gian sau, những người thợ thủ công chuyên "chế tác" tò he của làng Xuân La nảy ra ý tưởng  gắn vào những thứ "đồ chơi chim cò" - "con bánh" của mình những chiếc kèn ống nhỏ xíu. Ở đầu chiếc kèn ống đó người thợ quét thêm một chút mạch nha. Và khi ngậm vào chiếc kèn ấy để thổi, tức thì những thứ "chim cò" - "con bánh" đó phát ra thứ âm thanh: tò te! 

Từ tên khai sinh thuở sơ khai "đồ chơi chim cò" rồi thì "con bánh", đến lúc này  những sản phẩm được chế từ những nắm bột màu truyến thống của người Xuân La được gọi bằng cái tên mới toanh: tò te! Sau đấy hai từ "tò te" được gọi chệch ra thành "tò he". Và hai tiếng "tò he" tồn tại cho đến cái thời 4.0 nay. Vậy đấy, "sự tích" ra đời của tên gọi "tò he" là như thế, một trang lịch sử.

*

Nghệ nhân Đặng Văn Tiên - người đã và đang "sinh tử" với nghề tổ của làng gần 20 năm trời nay không giấu được niềm kiêu hãnh khi tâm sự với khách thế này: "Tò he, món đồ chơi dân gian là sản phẩm sáng tạo của các thế hệ cha ông người làng Xuân La. Và chỉ có người Xuân La mới có thể làm ra được những món đồ chơi tinh xảo đầy ngộ nghĩnh, đáng yêu từ chính những chất liệu thân thuộc trong đời sống hằng ngày mà thôi. Tò he không chỉ đơn thuần gắn bó với tuổi thơ của biết bao thế hệ người dân nước mình tại các vùng - miền khác nhau mà hơn thế, nó còn thể hiện được phần nào đó nét đẹp văn hóa làng. Mà văn hóa làng tức là đồng nghĩa với văn hóa Việt, phải không anh?!".

sản phẩm tò he của làng xuân la.jpg -0
Sản phẩm “Tò he” của làng Xuân La.

Vốn tính cởi mở và thân thiện như tất cả những "con dân" khác của làng Xuân La, anh Tiên kể, nguyên liệu truyền thống để làm tò he không gì khác là bột gạo tẻ. Có điều muốn giữ được độ dẻo bền lâu của bột, người Xuân La thường pha trộn thêm bột nếp theo tỷ lệ: 10 phần gạo tẻ bổ sung một phần nếp. Thường thì người Xuân La ưu tiên chọn thứ nếp cái hoa vàng để pha với gạo tẻ, vì nhẽ, họ sẽ có được thứ bột "như ý" và sẽ dễ dàng cho ra món hàng có chất lượng tốt nhất phục vụ các "thượng đế" tuổi ấu nhi. 

Tiếp đến đem trộn trộn thật đều hai món nếp - tẻ với nhau trước khi đem ngâm nước rồi cho vào cối đá xay. Khi đã có thứ bột nhuyễn đến mức không thể chuẩn chỉ hơn, bấy giờ người ta đem luộc chín và nhào thật nhanh tay, còn hơn cả "làm xiếc". Người Xuân La đặc biệt coi trọng khâu kỹ thuật luộc bột.  Và khi làm bột phải tính toán tới yếu tố thời tiết.  Vào lúc mùa đông bao giờ họ cũng làm bột dẻo hơn giai đoạn mùa hè. Công đoạn tiếp theo, bột được nắm lại thành từng vắt.

Anh Tiên chia sẻ, một trong những khoản quan trọng bậc nhất là nhuộm màu cho bột. Ngày xưa, các thế hệ tiền bối của làng Xuân La có truyền thống sử dụng các loại màu có nguồn gốc thực vật đem đun sôi với một ít bột. Các màu chủ đạo gồm có bốn màu. Màu vàng được "chiết xuất" từ hoa hòe hoặc củ nghệ. Màu đỏ từ quả gấc. Màu đen nhờ vào thứ cây nhọ nồi. Màu xanh lại lấy từ lá riềng hoặc lá trầu không, rau ngót. Còn các màu sắc trung gian khác đều được tạo từ bốn màu này mà ra. Thời nay, màu thực phẩm công nghiệp được dùng để thay thế màu truyền thống. Vì nó đẹp hơn, gia công nhanh, đều, đỡ tốn thời gian, công sức.

Cũng lại là cái dạo ngày xưa, thường thì người làng Xuân La nặn sẵn tò he ở nhà rồi mang ra chợ bán. Và, các con tò he không được gắn vào thanh tre như bây giờ mà được nặn và đặt lên những vòng tròn như chiếc đĩa. Đến khi "công nghệ" que tre ra đời người ta tạo hình tò he trực tiếp lên đó, và làm ngay tại chợ hoặc các điểm vui chơi công cộng.

Một thùng gỗ nhỏ hoặc thùng xốp với vài cục bột màu; một chiếc lược con và nắm que tre nhỏ… những "nghệ sĩ chân đất" của làng Xuân La có mặt "trên từng cây số"  khắp các vùng miền gần xa mang niềm vui, sắc màu đến cho các lứa tuổi thiếu nhi. Và giúp cho những người không còn trẻ may mắn có cơ hội tìm lại ký ức tuổi thơ của mình, ấy thế!

*

Đã có lúc những món tò he  -  sự sáng tạo mang tính dân gian thuần Việt của ở Xuân La tưởng như rã đám mai một trước sự xuất hiện tràn ngập của  những thứ đồ chơi công nghệ từ ngoài biên giới tràn vào. Và khi ấy, những người nông dân -  nghệ sĩ của làng Xuân La đã tưởng sẽ phải "chia tay hoàng hôn" với nghề tổ, do không thể sống được với nghề nữa rồi.

Nhưng vì ý thức được giá trị với cái nghề mà cha ông bao đời khó nhọc sáng tạo nên mà để lại như một thứ "của để dành" vô giá cho hậu sinh, người Xuân La đã bảo nhau giữ cho bằng được loại hình nghệ thuật dân gian có một không hai: Nặn tò he. Một trong những nhân vật tiên phong trong việc tìm lại sự sống cho nghề tò he Xuân La chính là nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Văn Thành, người được xem là một trong những kỳ nhân trong quá trình  hồi sinh làng nghề truyền thống.

Cứ như thổ lộ của nghệ nhân Nguyễn Văn Thành thì, nghề tò he truyền thống của quê anh "sống lại" không chỉ thuần túy với việc giúp cho bà con "có thêm đồng ra, đồng vào" một cách ổn định. Mà hơn thế, nghệ thuật sáng tạo tò he dân gian của người Xuân La đã - đang thật sự  có chỗ đứng lâu bền đầy chân giá trị trong đời sống văn hóa thời 4.0, góp phần giáo dục nhiều thế hệ tuổi thơ tại khắp mọi miền đất nước về lịch sử, bản sắc văn hóa và cội nguồn dân tộc Việt.

Cặp mắt sáng lấp lánh nét đẹp trí tuệ bỗng trở nên rưng rưng, kèm theo đó là cái giọng nghèn nghẹn, nghệ nhân Nguyễn Văn Thành bảo, Hà Nội đã vào Thu. Và chả mấy nữa là tới 28-8 âm lịch, ngày mà theo di lệ kế thừa, những "nghệ sĩ nông dân" làng tò he Xuân La trên khắp mọi miền đất nước lại trở về làng thành kính trở về nhà thờ nghề tổ của mình thắp nén tâm hương kính cáo với các bậc tiên liệt hậu hiền của làng mình rằng, gần 20 năm qua, nghề tò he truyền thống của quê hương đã chính thức được phục hồi, phát triển một cách căn cơ, bài bản. Và nghề tổ đã nuôi được người thợ tò he Xuân La.

Mà đâu chỉ có vậy, tò he - loại hình nghệ thuật đặc sắc độc nhất vô nhị của người Xuân La với những tác phẩm là chú mục đồng ngồi trên lưng trâu thổi sáo; những cô thôn nữ áo mớ bảy mớ ba rực rỡ hay hình tượng anh hùng Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc.

Và đây, chàng Thạch Sanh dũng mãnh đánh thắng trăn tinh… mang tâm hồn thuần Việt đã và đang tự tin bước ra khỏi lũy tre làng Xuân La để có mặt tại rất nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Anh, Nhật, Hàn Quốc… như một sự khẳng định: tò he - di sản văn hóa phi vật thể của cha ông là đại diện cho một phần nào đó văn hóa Việt truyền thống, ấy thế!.

Vũ Lê

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.