Gánh gồng Hàng Giấy - Đồng Xuân

Hai con phố Đồng Xuân và Hàng Giấy như có duyên nợ dính kết từ xa xưa. Chẳng những hiện nay cùng nằm trong phường Đồng Xuân mà cả hai phố được hình thành trên cùng một dải đê bên dòng sông Tô Lịch. Đình thôn Đồng Xuân hiện vẫn nằm trên phố Hàng Giấy (số 83). Câu ca dao xưa trong bài dạo chơi 36 phố phường cũng ghi: “Qua Tòa Thương chính, giả về Đồng Xuân/ Trải qua Hàng Giấy dần dần/ Cung đàn nhịp phách nên xuân bốn mùa...”.

Đường xưa em đi

Đường phố Hàng Giấy rộng tới 10 mét nhưng chỉ kéo dài hơn 200 mét. Đây là một đoạn đê cứng được bồi đắp trên bến cảng và bãi hàng bên sông Tô Lịch (chính là phố Hàng Lược). Phố là nơi tập kết của dân hai làng làm giấy ở kẻ Bưởi và làng Cót. Đầu tiên họ tụ gần đầu phố Hàng Khoai sau kéo hết phố tới bốt Hàng Đậu. Hàng chục cửa hàng bán đủ các loại giấy, từ giấy quyển đến giấy bản, giấy bồi. Và không ít chủ hàng bán giấy lệnh, giấy sắc, giấy tàu bạch để viết sớ hay sắc phong của triều đình.

Đa số người bán đều là phụ nữ. Đàn ông làng có nhiệm vụ chuyên chở giấy từ làng ngược sông Tô lên phố rồi khênh hàng lên quầy. Tối đến là họ lại đóng quầy rồi về làng. Đầu phố có lính tuần bảo vệ. Tô Lịch hàng trăm năm đã nổi tiếng thơ mộng và là đường giao thủy nhộn nhịp trong thành Thăng Long. Các cô, các bà đi chợ ai cũng thuộc câu ca: “Nước sông Tô vừa trong vừa mát/ Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh/ Ngập ngừng muốn tỏ tâm tình/ Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu”. Sau này Hàng Giấy khang trang dần, người có vốn liếng khá giả mới xây nhà và ở lại buôn bán.

2-cảnh chợ đồng xuân xưa.jpg -0
Cảnh chợ Đồng Xuân xưa.

Hàng Giấy là phố ngắn nhưng lại sầm uất và ăn chơi nhất khu phố cổ ngày đó. Vào thời thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ nhất, chừng năm 1910 phố đã xuất hiện nhà hát cô đầu, tạo nên chốn ăn chơi của đám nhà giầu và lính tráng. Mươi năm sau khi thực dân Pháp dồn dân để xây trụ sở đồn bốt (Sở Cẩm Hàng Đậu) thì nhà hát cô đầu bị dồn đuổi về phố Khâm Thiên và Ngã Tư Sở.

Trước đó, phố có đường sắt bắc qua trên cao để đưa tàu về ga Long Biên (năm 1900). Kèm theo đó là rạp chiếu bóng Bắc Đô ra đời. Sau hòa bình, rạp Bắc Đô vẫn còn tồn tại tới đầu thập niên 90. Nơi đây hiện nay chính là trụ sở một trường mầm non ở giữa phố. Phía dưới bên chân cầu đường sắt bắc ngang qua phố Hàng Giấy đã hình thành phố Gầm Cầu cắt ngang và kéo dài tới phố Hàng Lược. Từ đó những cửa hàng bán giấy bút bị tản mát nhường cho thị trường kẻ chợ Đồng Xuân với hàng trăm mặt hàng các loại.

Phố Hàng Giấy còn là địa chỉ văn hóa với những sự kiện kỳ thú khác. Đó là số nhà 58, cửa hiệu Ích Ký vừa bán giấy vừa mở xưởng in và nhà xuất bản (1948-1954). Thêm nữa tờ báo An ninh Thủ đô cũng từng đóng trụ sở ở số 2 Hàng Giấy trong vòng hơn 10 năm khoảng (1987-1996) trước khi rời về 82 Lý Thường Kiệt. Đặc biệt nhất là ngôi nhà số 46, nơi cất tiếng chào đời của nhà nhà báo kiêm dịch thuật Nguyễn Văn Vĩnh (1882 -1936). Ông được coi là một trong những nhà báo đầu tiên của nước ta (hoạt động từ năm 1905 tới khi mất - 1936). Hàng trăm bài báo và hàng chục cuốn sách dịch thuật văn chương đã được Nguyễn Văn Vĩnh viết ở đây.

Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh từng làm Chủ nhiệm một số báo và tạp chí vào thời kỳ đầu của lịch sử báo chí Việt Nam. Ông luôn thể hiện thái độ yêu nước và phản đối chế độ hà khắc của thực dân Pháp cùng triều đình nhà Nguyễn ngày đó. Chính vì thế giặc Pháp đã gây hấn và làm ông phá sản. Ông phải chấp nhận điều kiện mà chúng đưa ra, sang Lào đào vàng trả nợ (1935). Chỉ một năm sau ông bị mất trên một chiếc thuyền độc mộc bên dòng sông Xê Pôn vì bị sốt rét cấp tính. Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp chính là con trai ông và nổi tiếng với bài thơ “Em đi chùa Hương” (được phổ nhạc và hát cho tới nay).

Vui nhất có chợ Đồng Xuân

Ký ức của tuổi thơ đối với bất kể ai là người dân Thủ đô đều gắn với cảnh hát xẩm tầu điện ở chợ Đồng Xuân. Đây là bến đợi vì có mấy tuyến đường tàu điện đi xuôi, đi ngược. Ở đây những ông hát xẩm luôn hóm hỉnh vừa kéo nhị vừa hát rằng: “Thằng Tây ngồi nghĩ cũng tài/ Sinh ra đèn điện thắp hoài năm canh/ Thằng Tây ngồi nghĩ cũng sành/ Nghĩ ra tàu điện chạy quanh phố phường”. Tàu điện chạy từ bến Bờ Hồ đi qua Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường rồi đậu lại bến trước cửa chợ Đồng Xuân. Sau đó tàu đi qua phố Hàng Giấy rồi xuống Quán Thánh xuôi về chợ Bưởi. Nhiều khách tới muộn khi chuông tàu dập liên tục thế là họ đánh đu lên tàu nhanh như chớp. Hình ảnh này cũng được các ông hát xẩm miêu tả: “Xưa nay có thế bao giờ/ Có chiếc tàu điện đứng chờ ngã ba/ Đàn ông cho chí đàn bà/ Hễ tàu vừa đến lấy đà nhảy lên”.

1-cảnh quan chợ đồng xuân.jpg -0
Chợ Đồng Xuân hôm nay.

Nhưng có lẽ phổ biến nhất là bài xẩm “Vui nhất có chợ Đồng Xuân”. Trong dân gian cũng lạ. Cái gì gắn bó với chợ búa là đều có thể hát lên. Có bài quen đến thuộc lòng nhưng mỗi lần ông xẩm mù cất tiếng là ai cũng khoái lỗ tai. Bởi chính tâm hồn của nghệ sĩ đường phố luôn có sức mê dụ bởi sự hài hước và nhấn nhá cùng nỗi đời chất chứa bấy lâu nay. Bao giờ cũng bắt đầu sau cái hắng giọng là lời ca vang lên véo von: “Hà Nội như động tiên sa/ Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần/ Vui nhất có chợ Đồng Xuân í a/ Mùa nào thức nấy xa gần đến mua…”. Thế rồi cứ thế xẩm mù kéo dài lê thê trên mỗi toa tàu cùng với tiếng chuông leng keng dọc khắp phố phường.

Thực ra cái tên phố Đồng Xuân mới có từ sau năm 1945. Trước kia, nó được gọi là phố Hàng Gạo. Chợ Đồng Xuân hình thành từ năm 1890, khi Pháp đuổi dân, dồn chợ để xây các khu phố nhà Tây. Mãi tới năm 1920, chợ mới được xây lại khang trang, rộng rãi và chia làm nhiều cầu hàng rõ rệt. Tính ra phố Đồng Xuân dài chưa tới 200 mét. Bên số lẻ phía chợ chỉ có mươi nhà kế bên đầu phố Cầu Đông. Còn chủ yếu là khu đất chợ kéo dài hết phố và rộng chừng 10.000 mét vuông. Nếu tính cả diện tích chợ Bắc Qua gắn liền phía sau thì rộng tới 1,5 ha. Hiện chợ có 2.000 hộ kinh doanh.

Đặc biệt, bên cạnh chợ có tượng đài “Quyết tử để tổ quốc quyết sinh” đánh dấu một thời kỳ lịch sử anh hùng đã diễn ra tại đây. Phố Đồng Xuân và Hàng Giấy đã từng trở thành chiến lũy và pháo đài của quân và dân Thủ đô (Tiểu đoàn 101). Cuộc chiến đấu của Trung đoàn Thủ đô mở rộng khắp khu phố cổ, tập trung tại chợ Đồng Xuân (kéo dài từ 19/12/1946 tới 14/2/1947). Đó là bản anh hùng ca 60 ngày đêm khói lửa mà nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi đã mô tả trong bài hát “Người Hà Nội”. Hình ảnh thật vang dội bất khuất: “Hà Nội cháy khói lửa ngập trời/ Hà Nội hồng ầm ầm rung/ Sông Hồng reo!/ Thét lên xung phong căm hờn sôi gầm súng/ Bùng cháy khắp phố ta ơi!/ Vùng lên chiến sĩ ta ơi!/ Trời Hà Nội đỏ máu…”.

Bản tình ca chợ đêm

Giờ đây khu phố cổ nhất là chợ Đồng Xuân không chỉ nhộn nhịp chen chúc vào ban ngày nữa mà cả những phiên chợ đêm vào cuối tuần. Chợ đêm bày hàng bán dưới lòng đường kéo dài từ đầu phố Hàng Đào kéo tới hết phố Hàng Giấy (dài 1,5km). Điều thú vị của những phiên chợ đêm là hàng quán toàn bán giá rẻ tha hồ chọn lựa. Bên ngoài góc chợ Đồng Xuân luôn có sân khấu hát xẩm và những làn điệu cổ truyền vào phiên chợ đêm. Các nghệ sĩ nổi tiếng như NSND Thanh Ngoan hay NSND Xuân Hoạch cùng các gương mặt nổi bật khác trong làng dân ca cổ truyền đã thay nhau trình diễn.

Sân khấu được bài trí phông cảnh và thể hiện đúng cảnh hát xẩm ở chợ Đồng Xuân cách đây hơn nửa thế kỷ. Tiếng hát ngỡ như mua vui nhưng nghe sao ấm áp tình người. Ngỡ như năm xưa tiếng tàu điện leng keng vui reo, tiếng nhị óng ả vang lên, lời ca phảng phất bay bổng: “Sáng giăng sáng cả vườn chè/ Một gian nho nhỏ đi về có nhau/ Vì tằm em mới phải chạy dâu/ Vì chồng em mới phải qua cầu đắng cay”. Giữa cái nhộn nhịp, ồn ã phố phường bán mua luôn vang lên những giai điệu dân gian. Đó là những bản tình ca luôn đưa cuộc đời trở về một xứ sở bình yên, cùng tâm hồn trong veo mà ngỡ đã bỏ quên theo thời gian.

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).