Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!

Mấy câu thơ trong “Ngập ngừng” của Hồ Dzếnh lại nói hay, chính xác, hàm súc hơn nhiều trang lý luận nói về trạng huống cảm xúc chờ đợi là thứ men chưng cất rượu thơ tình yêu làm say lòng nhiều người: “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!/ Ðể lòng buồn tôi dạo khắp trong sân/ Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần.../ Tôi nói khẽ: Gớm, làm sao nhớ thế?”. Em hẹn rồi em đến đúng giờ thì không có chuyện. Em hẹn rồi em không đến thì mới có trạng huống này: “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa như ngồi đống than” (Ca dao). Thế mới có thơ. Thì ra “đợi” là một cội nguồn của thơ!

Tâm trạng “đợi” đã được ca dao nói nhiều và rất sâu sắc: “Thuyền về có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”. Dựa vào cặp ẩn dụ di động (thuyền – chỉ người trai), cố định (bến – chỉ người nữ) câu ca dao là lời vàng sắt đá về sự chung thủy. Hai chữ “khăng khăng” thật đáng ca ngợi nhưng cũng có chút gì đó ngậm ngùi: Liệu “anh” có nhớ không, có “khăng khăng” chút nào không? Còn nhiều câu “ngậm ngùi” và khó hiểu hơn: “Gặp nhau đây, mắt liếc miệng chào/ Hỏi người bạn cũ có nơi nào hay chưa?/ Ba bốn nơi tới nói, dạ nọ bất bằng/ Em ôm lòng chờ đợi bóng trăng xế chiều”. “Ba bốn nơi tới nói” là ba bốn nơi tới dạm hỏi. “Dạ nọ bất bằng” là em không ưng. Thế nên “Em ôm lòng chờ đợi bóng trăng xế chiều”. “Ôm lòng” là “cầm lòng” chỉ “một mình em biết một mình em hay”. Chờ đợi cái gì? Sao là chờ đợi “bóng trăng xế chiều”? Nếu hiểu đó là không thời gian trong một ngày thì có thể “diễn nôm” là em đành đợi mỗi buổi hoàng hôn xem có ai đến không? Hiểu vậy có phần chưa tương xứng với sự sâu sắc của dân gian. Còn hiểu đó là khoảng thời gian một đời người thì có gì đắng đót và xót xa quá: không yêu được người như ý, em đành “ôm lòng”, “cầm lòng” đến già vậy! Xin mời độc giả cho ý kiến. Tác giả bài viết chỉ xin thêm ý ngày xưa người phụ nữ hay được ví với “trăng”!

image001.jpg -0
Chia tay và chờ đợi!!!

Nhưng hình như trong tình yêu xưa thì cả người nữ, người nam vị tha và tinh tế hơn bây giờ, tỉnh táo và có phần thực dụng(!?): “Chợ Gióng một tháng sáu phiên/ Bắt cô hàng xén kết duyên Châu Trần/ Xa xôi dịch lại cho gần/ Cách sông cách núi cũng lần cũng sang/ Người ơi tôi dặn người rằng/ Đâu hơn hãy lấy, đâu bằng đợi tôi”. “Duyên Châu Trần” là duyên vợ chồng. Đấy mới là mơ ước của người nam thôi. Còn thực tế và tấm lòng thì: “Đâu hơn hãy lấy, đâu bằng đợi tôi” là lời người nam dặn “cô hàng xén” nọ! Xét kỹ đó là mong muốn cho nhau được hạnh phúc!

Ngày trước khi đã yêu nhau thì lấy chữ “tín” làm đầu, dù chết không thay đổi. “Truyện Kiều” có câu: “Tháng tròn như gửi cung mây/ Trần trần một phận ấp cây đã liều” (câu 327- 328) là lời Kim Trọng nói với Kiều. “Ấp cây” tức “ôm cây” là từ điển tích Vĩ Sinh người nước Lỗ (thời Xuân Thu) yêu một cô gái nhưng cha mẹ cô chê Vĩ Sinh nghèo. Tha thiết yêu chàng nho sĩ, cô gái có ý định trốn theo Vĩ Sinh. Họ hẹn gặp nhau dưới chân cầu. Chiều tối ấy Vĩ Sinh đến trước đợi. Người yêu chưa đến, Vĩ Sinh cứ ôm chặt lấy trụ cầu thà bị nước dìm chết hơn là thất hứa.

Thời hiện đại nhà thơ Vũ Quần Phương có bài thơ “Đợi”: “Anh đứng trên cầu đợi em/ Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm/ Ngày xưa đã chảy, sau còn chảy/ Nước chảy bên lòng, anh đợi em/ Anh đứng trên cầu nắng hạ/ Nắng soi bên ấy lại bên này/ Đợi em. Em đến? Em không đến?/ Nắng tắt, còn anh đứng mãi đây!/ Anh đứng trên cầu đợi em/ Đứng một ngày đất lạ thành quen/ Đứng một đời em quen thành lạ/ Nước chảy… kìa em, anh đợi em!”.

Không cần quan tâm tác giả có đọc/vận dụng điển cố trên hay không nhưng nhìn từ “liên văn hóa” đó là sự kế thừa/truyền thống – nâng cao/hiện đại. Ở “Đợi” không còn là nước mà là nước thời gian chảy tự ngày xưa đến nay, chảy vào trong lòng. Không còn là nắng vật lý mà là nắng tâm hồn. Sâu sắc và phổ quát nhất là ở chân lý: khi có tình yêu thì chờ đợi là hạnh phúc, mọi cái lạ thành quen (đất lạ thành quen). Nhưng khi tình yêu không còn thì đợi chờ là vô nghĩa, thời gian thậm chí trở nên đáng ghét, dửng dưng (Đứng một đời em quen thành lạ). Đây là một trong những bài thơ tình hay nhất của thơ Việt Nam hiện đại!

Với bản dịch “Đợi anh về”, Tố Hữu đã chứng minh sự ngược lại quy luật “dịch là phản”. Trước hết nó được Việt hóa triệt để với nỗi lòng, suy nghĩ như là của người Việt. Việt hóa ở cả tiêu đề. Nghĩa ở bản phiên âm là “Hãy đợi anh!” (của nhà thơ Nga Konstantin Simonov 1915-1979). Nếu thế là lối mệnh lệnh thức xa lạ với tính dân chủ, bình đẳng của người Việt. Nốt chủ âm của bản nhạc tình yêu da diết này là “đợi”: “Em ơi đợi anh về/ Đợi anh hoài em nhé/ Mưa có rơi dầm dề/ Ngày có buồn lê thê/ Em ơi em cứ đợi... Đợi anh hoài em nghe/ Tin rằng anh sắp về!/ Đợi anh anh lại về”. Không chỉ là thơ, đó là thứ vàng ròng của tình yêu vĩnh cửu. Đó không còn là ngôn từ mà là niềm tin kết thành thứ kim cương thách thức thời gian, thách thức giông bão... Theo người dịch, bài thơ “là tâm trạng của những người đang yêu nói chung”, “là niềm tin vào tương lai, vào tình yêu được đơm hoa kết trái”.

image002.jpg -0
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!

Chỉ cần một bài “Biển vắng”, Trịnh Thanh Sơn đủ được xếp vào số ít những nhà thơ tình yêu của thế kỷ XX: “Rơi chiều vàng ngơ ngác sóng/ Xin đừng dõi chi chân trời/ Anh ngồi im chìm chiếc bóng/ Chén này biển với mình thôi!/ Một cộng với một thành đôi/ Anh cộng cô đơn thành biển/ Nắng tắt mà người không đến/ Anh ngồi rót biển vào chai”. Không có chữ “đợi” nhưng cả bài thơ nói về tâm trạng chờ đợi riêng biệt, sâu sắc và tinh tế. Không tả người “không đến” mà lại nói được rất nhiều về người này. Người ấy ư? Hai chữ tên bài đã bao hàm khá trọn vẹn. Người ấy mênh mông như biển, “dữ dội và dịu êm” và cũng bí hiểm như biển...

Dựa vào thế mạnh của tiết tấu và nhịp điệu mà trong âm nhạc sự chờ đợi có phần khắc khoải và da diết hơn so với thơ. Nhạc phẩm “Đợi chờ trong cơn mưa” của Thế Hiển là bài hát thành công: “Chờ em, chờ em/ Đợi em, đợi em/ Chiều mây xám, công viên quạnh hiu/ Hạt nắng chợt tắt, cơn gió se sắt/ Mưa bỗng rơi, rơi vào nỗi nhớ/ Mưa rớt không nguôi, mưa trút tim tôi/ Chiếc lá rơi, nhớ thương vời vợi...”. Cơn mưa buồn hô ứng rất hợp với sự chờ đợi đến “héo hắt”, “tê tái”. Đối tượng được chờ đợi chuyển từ “em” cụ thể sang hô ngữ “ai” chung chung như có gì trách cứ, giận hờn, như gửi vào mưa vào gió: “Chờ ai, đợi ai?/ Đợi ai, chờ ai?/ Chờ héo hắt suốt con đường dài/ Mưa vẫn mưa mãi, cơn gió tê tái/ Ôi gió mưa hay là bão tố/ Ai nhớ thương ai? Ai ngóng trông ai/ Có biết chăng nỗi lòng mong đợi...”. Bài hát khép lại bằng nốt nhạc vui, nhưng cũng vì thế mà có phần chơi vơi, hẫng hụt: “Em đến bên tôi, như tia nắng cho đời!”. Đúng quá! Chờ đợi như thế mà “em đến” thì em xứng đáng được so sánh như vậy. Nghệ thuật tròn trịa chưa chắc đã đi trọn vẹn vào lòng người!?

Tựa vào vành trăng khuyết mà luyến láy khi trữ tình da diết lúc chiêm nghiệm xa vắng về một tình yêu đã qua, âm nhạc của Huy Thục trong bài “Trăng khuyết” (thơ Phi Tuyết Ba) khai thác triệt để ngữ liệu dân ca day dứt, cảm động: “Anh ngỏ lời yêu em, vào một đêm trăng khuyết/ Bởi tình yêu tha thiết, biết tròn trước đêm rằm/ Em vui lúc trăng tròn/ Chạnh lòng khi trăng khuyết/ Anh ơi, anh có biết chăng/ Hay tình lứa đôi... Một ngàn năm, một vạn năm/ Con tằm vẫn kiếp, con tằm giăng tơ/ Ai ơi chín đợi mười chờ/ Chờ ai, ai đợi, ai chờ đợi ai...”.

Kế thừa tinh hoa âm nhạc dân gian rồi thổi vào tinh thần nội dung mới là hướng đi rất cần khuyến khích. Nhưng sự diễn tả tâm lý trữ tình trong truyền thống vẫn như là đỉnh cao để hôm nay vươn tới. Vạn năm sau, triệu năm sau, còn con người, còn tình yêu thì người ta vẫn còn hát “Bèo dạt mây trôi” vì tính mẫu mực cổ điển, tinh tế, mới mẻ: “Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi/ Anh ơi, em vẫn đợi bèo dạt/ Mây trôi, chim sa, tang tính tình...”. Một không gian trôi dạt, một tâm trạng trữ tình hoang hoải ngóng đợi. Không một nhạc sĩ, thi sĩ tài năng nào thay được các chữ “mòn mỏi”, “đợi”, các hình ảnh “sao rơi”, “trăng sắp tàn”, “cành tre”... vì nỗi nhớ khắc khoải, đau đớn như đã gửi cả trong đó, thấp thỏm ở trong đó: “Mòn mỏi thâu đêm, suốt năm canh/ Anh ơi, em vẫn đợi... mỏi mòn/ Thương nhớ... ờ ơ... ai/ Sao rơi, trăng sắp tàn ... trăng tà/ Cành tre đu trước ngõ/ Là gió la đà em vẫn mong chờ, sao chẳng thấy anh...”!!! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).