Duyên thơ Phố Núi

Ở xứ mình, những người bén duyên với thơ khá nhiều. Trong bài viết này tôi chỉ nói đến một người thơ ở phố núi Pleiku là Đào An Duyên. Nói thêm một chút rằng, vì yêu thơ nên tôi thường đọc thơ không chỉ trên sách, báo, mà cả trên Facebook. Có nhiều người làm thơ có những câu thơ, bài thơ hay mà tôi thích, tôi thường liên hệ để có thêm những câu thơ, bài thơ mà họ đã in trong các tập thơ.

Đào An Duyên gửi tặng tôi tập thơ "Ngày đã qua" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn cấp phép, ấn hành). Được biết Đào An Duyên đã được giải thưởng thơ của Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam cho tập thơ này, và chị cũng đã được Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam trao giải thưởng cho tập tản văn "Dòng sông trôi qua tôi". Như vậy chị đồng thời viết cả thơ và văn xuôi. 

Tôi chưa gặp Đào An Duyên ngoài đời, chỉ gặp trong thơ, trong những bài thơ mà tôi cho là có duyên, như chính tên nhà thơ vậy. Trong tập thơ đã đọc, "Ru mùa" là một trong những bài thơ mà tôi thích: "À ơi.../ Cái rét đầu đông/ Mưa hiu quạnh. Cải đã ngồng sắp hoa/ Ta ngồi ru nỗi đường xa/ Câu hát cũ dưới thềm nhà rêu phong.../ ...Hình như trời đã lập đông/ Bàn tay lạnh/ Giữa thinh không vẫy đò/ À ơi.../ Ru những mong chờ/ Cớ sao con nhện chăng tơ giữa chiều"...

Cái duyên trong thơ cũng như cái duyên ngoài đời của người con gái không chỉ là sự duyên dáng toát lên từ dáng đi giọng nói, mà còn là cái duyên đằm thắm, mặn mà, cái duyên mà cha ông mình thường nói: Duyên thầm. 

Duyên thầm, ấy là cái duyên ẩn sâu trong tâm hồn, tính cách của con người, cái duyên lặn trong từng câu chữ của thơ: "Người cũ như sương buổi sớm/ Mát ta một chút ngày nồm/ Nửa đời chồn chân mỏi gối/ Dịu dàng một ánh sao hôm.../ ...Người cũ giờ thành kỷ niệm/ Lâu lâu ta lỡ chạm vào/ Thương mình cũng thành ký ức/ Đa đoan niềm cũ mà đau" ... (Người cũ). “...Người đi về phương ấy/ Có gặp lại ngày xưa/ Và một ta thơ dại/ Nhặt tháng ngày vu vơ/ (Phương ấy).

Đào An Duyên sinh ra ở quê lúa Thái Bình, lập nghiệp ở phố núi cao nguyên Pleiku, ở đó, chị vừa dạy học, vừa làm thơ. Thơ Đào An Duyên nặng tình với cả hai vùng quê này: "Con cúi lạy tháng mười đậu trên bông lúa uốn câu/ Cong cong dáng mẹ 

Hình hài con từ đấy lớn dần/ Con nhờ đất mà thảo thơm tấm lòng nhân hậu.../ ...Con ngủ giấc thị thành mơ bông lúa uốn câu/ Mẹ thắt đáy lưng ong ngồi quạt cho cha mắt ngời hạnh phúc/ Tháng mười về. Dòng sông quê hiền hòa uốn lượn/ Con soi mình. Mơ một giấc trong xanh"... (Mơ giấc trong xanh).

Đọc những câu thơ ấy, ai cũng có thể nhận ra miền đồng bằng châu thổ thấp thoáng trong thơ chị, và phần nữa trong thơ là Pleiku: "Hoa quỳ vàng khắc khoải/ Xoay tít vòng bánh xe/ Chiều ngoại ô bất chợt/ Thương cánh chuồn triền đê/ Dốc lên rồi dốc xuống/ Đổ vào chiều Plelku/ Người đi xa có nhớ/ Bốn mùa sương giăng mù"... (Chiều Pleiku).

Bây giờ người ta nói nhiều đến việc cách tân thơ, đến chuyện thơ phải khác những gì đang có. Riêng tôi trước sau vẫn cho rằng thơ phải thật là thơ, dù cách tân đổi mới thế nào thì thơ vẫn phải là những tầng nghĩa vừa chân thực vừa hư ảo hòa quyện, kiểu "ý tại ngôn ngoại" như ông cha mình ngàn năm nay đã quan niệm. 

Tôi vừa đọc một số bài viết về nữ nhà thơ Mỹ Louise Gluck, người được giải Nobel văn chương năm 2020, và cảm thấy thật tâm đắc với quan niệm mà bà phát biểu: Thơ phải ít chữ, kiệm lời, thơ là "Phong cách của tư tưởng". 

Thời còn là sinh viên khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn), tôi đã nghe nói đến phong cách thơ "Tượng trưng" của nhóm Dạ đài. Thời đó, người ta có ý phê phán quan điểm của nhóm Dạ đài. Nay tôi tìm đọc lại, mới hay nhiều điều trong đó đúng với quan điểm thơ của tôi: "...Thơ phải cấu tạo bằng tính chất của vô biên. Sau cái thế giới trên hàng chữ phải ẩn giấu muôn ngàn thế giới, cả thế giới đương thành và đương hủy...". Nói điều này để soi chiếu vào nhiều câu thơ, nhiều bài thơ của Đào An Duyên.

Đào An Duyên là hội viên Hội VHNT Gia Lai, hội viên Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam, nghề chính là giáo viên, chưa phải là nhà thơ chuyên nghiệp. Thế nhưng thơ Đào An Duyên lại khá nhuần nhị, thể hiện được sự chuyên nghiệp trong cấu tứ, câu chữ. Và tôi muốn điểm qua những câu trong nhiều bài thơ của Đào An Duyên mà với tôi, có sức gợi, sức cảm, có ý ngoài lời ẩn giấu sau những con chữ: "Sương giăng giăng tràn môi mắt/ Ta ôm một thuở si mê"... (Cõng mùa). "Ta ru đời chưa ngủ/ Ru lên ánh trăng gầy/ Trăm năm tình vẫn vậy/ Nỗi buồn nào qua đây/ Ta ru nghìn đêm trước/ Môi son giấc mơ ngoan/ Giọt mưa khuya thềm vắng/ Cơn mưa nào đi hoang" (Ru đêm). "Em đàn bà phận mỏng/ Nợ anh đời tơ vương"... (Nợ). "Có lẽ nào tình đã cũ/ Khi mỗi bình minh em thức dậy"... (Mưa du ca). “...Đó là ngày. Em - người đàn bà đằm thắm... (Em ngồi vá lại tháng năm em).

Tâm sự với tôi, Đào An Duyên chia sẻ rằng: "Em coi thơ như người bạn để gửi gắm những suy nghĩ, cảm xúc của cuộc đời. Trong sự giả chân lẫn lộn, thơ không bao giờ phản bội người". Khi người thơ Đào An Duyên đã bén duyên thơ, hẳn thơ không phụ lòng người, tôi thiển nghĩ vậy.

Hà Nội, tháng 1/2021

Dương Kỳ Anh

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.