Đường Lâm - mạch làng chảy mãi

Đường Lâm được nhiều người biết đến là “đệ nhất làng cổ đất Bắc”. Thực ra, Đường Lâm là tên xã gồm 9 thôn nằm rải rác. Thuở trước, những thôn này thuộc tổng Cam Giá Thịnh (huyện Phúc Thọ, trấn Sơn Tây), sau tháng 8/1945, được lập thành xã Phùng Hưng và đến cuối năm 1964 chính thức mang tên Đường Lâm. Trong đó, các công trình cổ tập trung chủ yếu ở 5 thôn: Mông Phụ, Cam Thịnh, Cam Lâm, Đông Sàng và Đoài Giáp.

Nơi đây được cho là vùng địa linh nhân kiệt của xứ Đoài, đã sản sinh ra những nhân vật tinh hoa, lừng lẫy trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc như: Bà Man Thiện (mẫu thân của Hai Bà Trưng), hai vua Phùng Hưng, Ngô Quyền, Thám hoa Giang Văn Minh, bà Ngô Thị Ngọc Diệu, tức bà chúa Mía (người tôn tạo tu bổ chùa Mía, cung phi của chúa Trịnh Tráng), Khâm sai đại thần - Thám hoa Kiều Mậu Hãn, Phó Thủ tướng Phan Kế Toại, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi Hà Kế Tấn, họa sĩ Phan Kế An...

img_20250530_080717.jpg -0
Ngôi nhà cổ gần 400 năm ở Đường Lâm.

Lưu giữ hồn Việt

Từ thôn Vân Gia (phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây) đi qua một cánh đồng, cách làng Phụ Khang khoảng 400m có một ngôi quán cổ nằm yên bình dưới tán bàng rợp bóng. Đây chính là nơi quàn thi hài của Thám hoa Giang Văn Minh do người thân và nhân dân trong vùng lập lên khi cụ bị sát hại bên Trung Quốc, rồi được đưa về quê nhà (năm 1638).

Hàng bao đời nay, mỗi khi đi qua ngôi quán này, hẳn nhiều người còn cảm phục, ngưỡng mộ khí phách của một chánh sứ, nhà ngoại giao kiệt xuất, người dẫu chịu hiểm nguy, hy sinh cả tính mạng chứ không chịu nhục quốc thể với vế đối nổi tiếng: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” (Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ).

Cầu Vang bắc qua sông Tích nối hai làng Phụ Khang và Mông Phụ, toàn bộ trụ, mố cầu được làm bằng đá ong, một loại đá được coi là “chỉ dấu” của xứ Đoài. Hiện nay, để đảm bảo giao thông an toàn đã có cây cầu bê tông thay thế cho cây cầu cũ. Cây cầu đá ong có tuổi đời gần 100 năm vẫn đêm ngày soi bóng xuống dòng sông Tích, lưu dấu bao phận đời, bao bóng hình con dân Đường Lâm.

Nhà văn Hà Nguyên Huyến, một người con yêu ngôi làng cổ như báu vật từng chia sẻ: dưới trụ, mố cầu Vang là nơi trú ngụ của loài trạch trấu nổi tiếng thơm ngon. Ông từng có tuổi thơ êm đềm, tươi đẹp nơi cây cầu này với những buổi đào giun làm mồi câu trạch. Từ cây cầu đến cổng làng Mông Phụ là hàng loạt các công trình cổ: quán Lồ Biêu, quán Rô, chùa Ón ngự giữa cánh đồng bốn mùa xanh rì rào ngô lúa, làm cho vùng đất này thêm xưa cũ, nên thơ.

Bước qua cổng làng Mông Phụ có tuổi gần 500 năm là cả một thế giới mà mọi thứ dường như đang chậm lại, quay về thời quá vãng với ngôi đình ở địa thế ngã 6, đẹp nhất làng. Đây là nơi thờ tự, ghi nhớ công đức của Bố Cái Đại vương Phùng Hưng. Tổng thể công trình là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc Việt - Mường cổ với nghệ thuật điêu khắc điển hình thời Hậu Lê. Nhiều cổ vật trong ngôi đình vẫn được người dân gìn giữ.

Bên trái tòa đại đình có một cái mõ cá trắm lớn rất ấn tượng với nhiều người đến thăm ngôi đình. Ông từ giữ đình làng giảng giải theo quan niệm dân gian xưa, loài cá không bao giờ nhắm mắt nên ở các công trình cổ thường có tạo hình cá chép, cá trắm với ý nghĩa biểu tượng cho nghị lực, hy vọng, sự tinh tấn trong niềm tin, tu tập... Trong làng còn hàng trăm công trình cổ có tuổi đời từ 100 đến gần 500 năm, gồm nhà ở, từ đường, nhà thờ họ, quán, giếng nước...

Điểm nhấn ở các thôn Đông Sàng, Cam Lâm là ngôi chùa cổ có tên chữ Sùng Nghiêm Tự (dân gian thường gọi là chùa Mía), đền thờ Bố Cái Đại vương Phùng Hưng, đền thờ vua Ngô Quyền. Các công trình mang vẻ đẹp hài hòa trong kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc của người Việt, lưu dấu những giá trị trường tồn về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh,...

Rặng duối cổ cách đền thờ vua Ngô Quyền không xa trải qua hàng ngàn năm vẫn bền bỉ xanh cùng tuế nguyệt. Tương truyền, rặng duối là nơi đội quân của Ngô Quyền buộc voi, ngựa, dài đến hàng cây số, nhưng do sự di biến của thời gian, giờ chỉ còn lại 20 cây. Mỗi khi có cơn gió trườn qua cánh đồng, lướt trên rặng ruối nghe như có tiếng quân reo, voi rầm, ngựa hí muôn năm cũ vọng về.

Những người tiếp nối mạch làng

Những năm gần đây, du lịch tâm linh, văn hóa phát triển mạnh, làng cổ Đường Lâm trở thành điểm đến đầy quyến dụ đối với du khách trong và ngoài nước. Ý thức được những giá trị quý báu mà ông cha để lại cho hậu thế, mỗi người dân làng cổ đều lặng thầm cống hiến tâm sức từ hành động nhỏ đến những việc lớn để gìn giữ và lan tỏa những nét đẹp vật thể và phi vật thể của làng.

Dạo bộ quanh làng Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Lâm... không hiếm gặp những gian quán nhỏ của các bà lão hiền lành với rất nhiều thức quà quê gợi nhớ, gợi thương năm tháng xa xôi: chiếc bánh đa vừng giòn tan, gói kẹo lạc ngậy ngọt, phong chè lam dẻo thơm hương nếp đồng làng, bát nước chè xanh đằm đượm, cốc nước vối dịu mát trưa hè,...

Ngồi bên chõng tre, nhâm nhi chiếc kẹo lạc, nhấp một ngụm trà, nghe các bà rủ rỉ kể chuyện xóm, chuyện làng sẽ thấy dù bao năm tháng đi qua, bao di biến thì văn hóa làng, tình làng vẫn như mạch nước ngầm nguyên khiết chảy mãi trong từng thớ đất, ngôi nhà, con đường, bóng cây và trong lòng mỗi con dân của làng.

img_20250530_080720.jpg -1
Ông Nguyễn Văn Hùng kể chuyện về làng cổ.

Trong ngôi nhà cổ xây dựng từ năm 1780 của cụ Đốc học Đỗ Doãn Chính, du khách sẽ được bà Đỗ Minh Nguyệt, hậu duệ đời thứ 5 của cụ Chính, giáo viên dạy Sử đã nghỉ hưu giới thiệu về kiến trúc của ngôi nhà và những công trạng, tâm đức của ông cha. Ngôi nhà của quan Đốc học gồm 5 gian (3 gian chính là nơi thờ tự, tiếp khách, 2 gian ngoài cùng để ngủ nghỉ), ngưỡng cửa khá cao so với các nhà thường dân cùng thời. Ngoài làm quan, cụ Chính còn là nhà Nho, thầy đồ nổi tiếng một vùng. Ngưỡng cửa cao để mỗi khi học trò hay thường dân vào nhà đều phải cúi thấp đầu chào thầy - quan Đốc học.

Các cổ vật được các thế hệ con cháu cụ giữ gìn, quý nhất là đôi võng vua ban ngày cụ Chính vinh quy bái tổ, tượng Phật Bà Quan Âm và bức tranh bát tiên quá hải có niên đại hơn 200 năm, đôi câu đối lưu bút tích của cụ, chiếc ô và cây chổi lông gà sinh thời cụ vẫn dùng.

Ngôi nhà được dòng họ giao cho ông bà Đỗ Doãn Dương - Dương Thị Lan, là cháu trai và cháu dâu đời thứ 8 của cụ Chính trông nom. Từng chứng kiến tình cảm sâu đậm, thiêng liêng của chồng dành cho ngôi nhà nên sau khi ông Dương khuất núi, bà Lan vẫn đêm ngày chăm sóc ngôi nhà của gia đình chồng như nắm giữ một viên ngọc. Và khi nào nhắm mắt về với tổ tiên thì bà sẽ trao lại cho con cháu.

Một trong những ngôi nhà cổ có niên đại lâu đời, còn giữ được gần như nguyên trạng ban đầu là ngôi nhà xây dựng năm 1649, hiện tại gia đình ông Nguyễn Văn Hùng là thế hệ thứ 12 đang chăm sóc, sử dụng khai thác. Ngôi nhà gỗ 5 gian, có diện tích hơn 100m2. Từ cổng đến tường nhà được xây dựng từ đá ong, kết nối bằng vữa (bã trấu và bùn).

Năm 2008, đại diện Bộ Văn hóa, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã phối hợp với một số cơ quan chức năng và gia chủ tiến hành trùng tu công trình làm cho ngôi nhà giữ được kết cấu vững chắc, cách bài trí, sắp xếp các đồ vật cũng hợp lý, tiện cho sinh hoạt của gia chủ và chiêm ngưỡng của khách tham quan. Từ cổng, sân vườn, ba gian nhà chính, nhà bếp, khu chế biến chè lam, bánh bỏng, kẹo vừng, chòi tiếp khách,... được chăm chút kĩ lưỡng.

Bước vào bên trong khuôn viên ngôi nhà tưởng như thời gian đang nhỏ giọt bởi lích rích tiếng chim chích ken vòm lá, rập rờn một cánh bướm giỡn đóa mai khôi, lốm đốm rêu xanh dưới chân cây cổ mộc... Nhà cổ của gia đình nhà văn Hà Nguyên Huyến, gia đình ông Hà Văn Thể cũng thuộc hàng “đỉnh”, thường được du khách lựa chọn ghé thăm. Mỗi ngôi nhà đều gắn với câu chuyện đời người, dòng họ. Toàn bộ khuôn viên, cấu trúc và những thứ hiện hữu hoặc không hiện hữu trong nhà đã tạo nên một bảo tàng thu nhỏ về văn hóa làng đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ.

Một điều dễ nhận thấy khi tiếp xúc với gia chủ của các ngôi nhà cổ trong làng, là tình yêu, niềm tự hào của họ đối với những di sản mà ông cha đã trao truyền cho thế hệ cháu con. Có lẽ, chính niềm tự hào ấy đã góp phần tạo nên một cái mạch âm ỉ, dạt dào, bền bỉ trong mỗi con người nơi đây - mạch làng.

Quang Minh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).