Dùng thơ Chế Lan Viên bàn về thị phi giải thưởng

Khi những chuẩn mực văn hóa và đạo đức của xã hội đang phải đối mặt với nhiều thử thách, thì các loại giải thưởng rất khó tìm được sự đồng thuận. Và một sự thật không ai có thể phủ nhận là nền văn nghệ chúng ta đang vắng bóng danh sư, vắng bóng những nhân vật mà tiếng nói của họ tạo được niềm tin cho công chúng về giá trị nghệ thuật nhất định. 

Trước những bấn loạn thẩm mỹ văn chương, chúng ta nhớ đến Chế Lan Viên, một nhà thơ bậc thầy có khả năng dùng thi ca như một công cụ phê bình để nhận đường và mở lối cho sáng tác. Ngay khi cả Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà Nước cũng liên tục có những mùa trao giải nhiều tiếng bấc tiếng chì, hãy thử lật lại thơ Chế Lan Viên như ông từng di ngôn: "Tôi chết rồi, thơ sau đó sẽ xanh hơn/ Cố nhiên đó là thơ nhân loại khác/ Nếu có luân hồi, ta sẽ về, sẽ đọc/ Sẽ nâng làn cỏ lạ lên môi hôn", biết đâu sẽ có được vài suy nghiệm nho nhỏ!

Hiểu được giá gạo, giá xăng không ngừng tăng lên, số tiền kèm theo giải thưởng cũng tăng lên. Số tiền vài trăm triệu đồng có thể không lớn với doanh nhân túi bạc kè kè nhưng lại tương đối lớn với thi nhân mộng mơ trăng gió. Số tiền ấy thật đáng phấn khởi giữa hoàn cảnh: "Chung quanh bọn tham ô/ Xây biệt thự lớn nhỏ/ Còn lên lớp nhà thơ/ Cần chịu đựng gian khổ".

Kinh phí đã xong, còn tác phẩm thế nào? Không hề đơn giản, vì bước vào giai đoạn kinh tế thị trường, ai cũng mơ hồ đoán được: "Bể đã ra khỏi hồn thơ nhiều thi sĩ/ Sóng không còn trong lòng họ từ lâu/ Vầng trăng gọi các thủy triều đã xế/ Gà vịt chuồng thay cánh trắng hải âu". Thế nhưng, đến hẹn lại lên, vẫn phập phồng hy vọng: "Hương bay ở chỗ vắng trầm/ Thơ vang ở chỗ bặt câm ngôn từ".

Làng văn chương không ít những âm thanh ngân nga, tác giả dễ thấy trên tivi và trên mặt báo, mà tác phẩm cứ thưa thớt dần. Những lời kêu gọi làm đơn xin xét tặng giải thưởng vừa hoan hỉ vừa hồi hộp: "Bốn nghìn năm chưa phải là ta đã cày sâu vào trang giấy lắm đâu/ Gié lúa nhiều thế kỷ cầm lên còn lép hạt".

May mắn làm sao, một tiếng hô có trăm tiếng đáp, đơn đề cử và đơn ứng cử khắp nơi bay về. Có đơn được chuyển từ tổ chức chuyên môn và có đơn được chuyển từ chính quyền địa phương, đều cạnh tranh nhau một cách công bằng: "Nghệ thuật đẻ ra ở chỗ giành hai lực/ Nước xô đi và xoắn lại ở chân cầu".

Cứ thế, sự xét duyệt trải qua nhiều chặng gay cấn, hết hội đồng cơ sở đến hội đồng cấp Bộ, rồi đến hội đồng cấp quốc gia: "Những câu thơ pháo - đất - đối - đất vẫn phải qua trời bằng một đường cong/ Có những lúc câu thơ phải bắn cầu vồng/ Mà người nhắm vẫn là nhắm thẳng".

Đã ba lần trao giải, những người đang sống không thể lãng quên những người đã khuất. Có thể là sự bái vọng, có thể là sự tưởng niệm: "Có nhà thơ để lại bộ lông vằn tên tuổi/ Các thế hệ sau đến độn vào đấy rơm và danh vọng/ Thậm chí thêm cho con vật chết khô/ Cả một tiếng gầm".

Không sao, văn chương tự cổ vẫn thế, cứ nhìn danh sách đề cử sẽ thấy "Có rồng, nhưng cũng có cá rồng rồng, không phải rồng/ Có thơ, nhưng lại cũng có cái thẩn thơ, thơ thẩn". Đi sau những bóng dáng lồng lộng của Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao... không hề đơn giản chút nào. Người nhận giải kế theo phải lấy gì để khỏi ngượng ngùng với tiền nhân chứ? Trường giang sóng sau xô sóng trước cách nào?

Chế Lan Viên tư vấn: "Tạo ra một giống thơ như một giống lợn nạc nhiều/ Có đùi to, mông to, mười sáu cặp lườn, lắm vú/ Hôn phối nhiều loại thơ để đẻ ra loại thơ ưu tú/ Những F1 mượt lông nhiều sữa, có nên chăng?".

Quần anh tụ hội, cái chiếu giữa làng nô nức chen chân, có đề cử được công chúng hài lòng, có đề cử khiến công chúng băn khoăn: "Sợi chỉ lòng anh nghèo có một màu/ Xe vào cái đa sắc của cuộc đời nên chói lọi/ Anh chửa vội dệt đâu, hãy cần cù xe sợi/ Cho quấn chặt vào nhau trăm hình ảnh rạc rời".

Và bất cứ cuộc hò reo nào, đôi lúc cũng chợt ngẩn ngơ vì chỗ trống các tài năng không tham gia: "Phải ba triệu sóng gió của đời mới đúc nên châu ngọc/ Khốn nỗi, đã là ngọc ư, thì lại dễ xa đời".

Đồng nghiệp và bạn đọc không biết nói gì trước những tác giả vì lý do này hoặc lý do khác để không làm đơn xin xét tặng giải thưởng. Đành thở dài chia sẻ bằng thái độ của thi hào dân tộc gửi gắm cho cháu con: "Bất tử hay không, Nguyễn cóc cần/ Thiên tài quen sống đời mây cô độc/ Tuổi tên là phù vân/ Ông chỉ mong ta bền một chữ tâm/ Nhỏ một giọt sương người bên khóe mắt/ Cái Nguyễn chờ là giọt lệ hồi âm".

Cờ đã treo, trống đã giục, ai thích thì ganh đua, luật chơi rất rõ ràng. Tác giả đã đoạt Giải thưởng Nhà nước rồi, thì tìm thêm tác phẩm để ứng thí Giải thưởng Hồ Chí Minh. Không có tập riêng khác biệt thì làm tuyển tập chọn lọc: "Đất nước thừa những con sông Tiền Đường định mệnh/ Và dù anh chia Nguyễn Du, Tố Như, Thanh Hiên máu thịt đời anh ra làm ba mảnh/ Thì giọt lệ trang Kiều gom lại một mà thôi".

Náo nức hơn cả, là những tác giả bấy lâu nay xa lạ với độc giả, vẫn tự tin liệt kê danh mục hàng chục tác phẩm đủ mọi thể loại, dù có thể chính họ cũng hiểu: Trăm câu thơ xóa đi cho một câu khỏi ném vào trong gió/ Và chắc gì câu kia bay được tới bình minh".

Đề cử thì vô tư, nhưng giải thưởng có hạn. Hội đồng giám khảo bỗng mang gánh nặng nghìn cân, khi phải đóng vai trò những kẻ thưởng lãm thông thái trước bài toán hóc búa: "Khi tất cả những người đọc anh đã bỏ đi/ Còn một độc giả yêu anh và ở lại/ Anh có gì cho người kiên nhẫn ấy? Có còn chăng một vì sao dành lại giữa đêm khuya/ Người ấy tìm ra ngôi sao mà anh hằng ngắm ấy/ Chính ngôi sao kia sẽ gọi trăm người đọc quay về".

Tất nhiên, Hội đồng giám khảo có tiêu chí riêng và bản lĩnh riêng để cầm cân nảy mực cho cuộc chiến hào hoa và lịch lãm nhưng cũng đầy thị phi: "Hãy nghĩ các vị thầy sẽ về đọc thơ anh/ Đó là Nguyễn Du, Nguyễn Trãi/ Các vị thích gì? Thích anh không nhai lại các thầy xưa/ Thích anh có văn phong thời anh, các vị chưa biết bao giờ/ Thích biết chuyện thời anh/ Tâm hồn anh không có gì giống như tâm hồn các vị".

Và chính Hội đồng giám khảo đang chau mày nghiêm nghị đong đếm nặng nhẹ lẫn những ứng viên đang nắc nỏm mong chờ kết quả, vẫn tin chắc công chúng đang cày ruộng, công chúng đang may áo, công chúng đang nấu cơm, mới có quyền phán xét cuối cùng: "Bài thơ anh diễn lên cho người xem trước mặt/ Nhưng có người xem từ buồng trò, xem ra he hé cánh gà/ Họ vừa xem, và nếu anh quên tuồng thì họ nhắc/ Mỗi câu thơ anh đều từ suối họ sinh ra".

Ai cũng dễ dàng đồng tình: "Khi ta kỷ niệm Nguyễn Du chả ích gì cho Nguyễn/ Chả qua để kẻ yêu thơ khỏi tủi trong lòng/ Ông đã hóa mây trắng bay ngang trời hoài niệm/ Hóa ra Kiều cao gấp mấy đời ông", nhưng đã thi thố ắt phải có kẻ được người không.

Tác giả được giải thưởng tự răn đe "Trái tim sinh thời nào thì tròn méo theo thời ấy/ Chắc hẳn người đời sau sẽ chê tròn, chê méo trái tim ta". Còn tác giả hụt giải thưởng tự khuyên nhủ: "Anh không hái nổi mùa anh rồi, em ạ/ Chỉ vì anh đã vung nắm thóc anh vô trật tự/ Ngỡ góc bể chân trời nào đều có lúa anh gieo/ Giờ đây lúa anh lên cùng với cỏ/ Anh gieo bão mà gặt về chỉ gió/ Giàu cỏ cánh đồng thôi, còn nắm thóc vẫn nghèo".

Tất nhiên, cũng có người vì chưa được giải thưởng mà nhói lên chút đau đớn ngọt ngào: "Những vết thương gây ra bởi mùi hương, lâu lành hơn cả/ Chữa lành ư? Lại phải có mùi hương/ May quá! Đây là vết thương không chảy máu, không có hình, không có sẹo/ Và anh có thể đi lại, tươi cười, dẫu bị tử thương".

Như một lẽ thường tình của nhịp sống văn minh, trong thâm tâm những người chưa được giải và những người chưa dự giải đều mong muốn vài bất cập về cơ chế xét tặng sẽ được cải tiến ngày càng hợp lý: "Với con thuyền xưa, Crixtốp Côlông tìm ra châu Mỹ/ Sao con tàu ngày nay vứt dáng cổ thuyền xưa? Chả là tàu muốn trung thành hơn với bể/ Nội dung bể phải đâu muôn đời vẫn thế/ Thay hình thức của thuyền đi, sẽ hiểu bể thêm mà!".

Các loại giải thưởng khác thì nhiều, mà Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước thì 5 năm mới có một lần. Dư luận ồn ào lên rồi trả các tác giả về với bản thảo nhọc nhằn: "Đừng chờ câu thơ anh làm anh vĩnh cửu/ Anh như con nhện đòi dệt tơ tằm, sao được? Dệt nắng trời sao được? Làm sao câu thơ anh lại lâu dài, trường cửu/ Hơn đời anh chóng vánh?".

Và lại viết, viết lặng lẽ, viết bồn chồn, viết âu lo vì sứ mệnh người cầm bút: "Sau lưng anh còn mênh mông nhân loại/ Đừng nghĩ mình là người đi cuối/ Phải để lại dấu chân, nhành cây, viên sỏi/ Cho người theo sau không cô đơn".

Văn chương thời hội nhập mỗi ngày mỗi nghiệt ngã, đòi hỏi những tác giả khao khát kê cao tác phẩm Việt phải vượt lên trở ngại: "Cởi bỏ cái cũ có khi tuột da, lòi xương, chảy máu/ Đất nước bùn lầy đẻ ra công nghiệp khó khăn sao/ Trận đánh ấy ta trèo lên, tụt xuống rồi lại phải trèo lên/ Giữa cảng lớn dầu khí ngày nay, con thương mẹ ngày xưa leo lét ngọn đèn dầu/ Mẹ lấy tay che phía này, phía nọ cho trang thơ con được lặng/ Trong khi trang con viết ngày nay đang chờ Gió Lớn ùa vào".

Không thể nói khác, Giải thưởng Hồ Chí Minh hay Giải thưởng Nhà nước, ngoài sự ghi nhận, còn là một thước đo và còn là một sự cảnh tỉnh giúp mỗi tác giả nhắc nhở bản thân: "Để cho người ta có thể cúi xuống vuốt mắt tay chân anh lạnh giá/ Không lợm mửa khi khiêng anh bỏ vào hòm/ Hôm nay anh cố gắng tạo mùi hương trí tuệ/ Viết câu thơ sáng chói tâm hồn". 

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).