Họa sỹ Ngô Quang Nam

Đua tốc độ với thời gian

Vào những năm 80, 90 của thế kỷ trước, Hội Văn học nghệ thuật Vĩnh Phú có một đội ngũ văn nghệ sỹ đông đảo. Không ai bảo ai, mỗi người một cách riêng, đã làm cuộc "đổ bộ" về Hà Nội. 

Khởi đầu là hai nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, Vũ Đình Minh, tiếp theo là Nguyễn Chí Vượng, Giám đốc Sở Văn hóa (tác giả bài thơ được phổ nhạc: "Gửi Việt Trì - Thành phố ngã ba sông", rồi đến Văn Chinh, Trần Quang Quý, Đỗ Quý Bông về Hà Nội học cũng ở lại. Tiếp đến là nhạc sỹ Cao Khắc Thùy, họa sỹ Ngô Quang Nam, nhạc sỹ Đào Đăng Hoàn…

Họa sỹ Ngô Quang Nam rời Phú Thọ năm 1996 với cương vị là Giám đốc Sở Văn hóa, về làm lãnh đạo một vụ ở Bộ Văn hóa. Quen thân nhau đã lâu, dù biết Ngô Quang Nam là hậu duệ đại Văn Thân Cần Vương Nguyễn Quang Bích, nhưng tôi vẫn thầm thắc mắc là tại sao ông không mang họ Nguyễn như cụ.

Nhân chuyến về thăm đền thờ cụ Nguyễn Quang Bích ở xã Tuy Lộc (Cẩm Khê) gần đây, tôi mới hỏi chuyện này và được biết: Cụ Nguyễn Quang Bích quê gốc ở Tiền Hải, Thái Bình, từng làm đến chức Hiệp Điện Đại Học Sỹ,  năm 1886 được triều đình bổ nhiệm làm Tuần phủ Hưng Hóa (quản lý gồm cả vùng Tây Bắc, đóng ở vùng Phú Thọ ngày nay).

Cụ Bích vốn họ Ngô, nhưng từ mấy đời trước đó, gia đình làm con nuôi họ Nguyễn, theo quan niệm "Ngũ đại mai thần chủ", nghĩa là ơn phải trả trong năm đời, họ phải theo đến năm đời. Đến đời thứ 6 trở đi con cháu mới được mang lại họ cũ. Qua 5 đời, đến đời ông nội của Ngô Quang Nam là cụ Ngô Quang Đoan đã được mang lại họ Ngô.

Ngô Quang Nam sinh năm 1942 tại Vĩnh Phúc. Năm 1958, ông vào học Trường Mỹ thuật Hà Nội, đến năm 1960 về công tác tại Ty Văn hóa Vĩnh Phúc. Năm 1966, ông được cử sang học tại Viện Hàn lâm Mỹ thuật Praha (Tiệp Khắc) chuyên về sơn dầu, đến năm 1974 về làm việc tại Ty Văn hóa Vĩnh Phú (thời gian này đã sáp nhập hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc), ông được giao làm Giám đốc bảo tàng tỉnh, rồi làm Phó ty Văn hóa, năm 1978 làm Trưởng ty Văn hóa tỉnh khi mới 36 tuổi.

Họa sỹ Ngô Quang Nam bên xưởng vẽ.
Họa sỹ Ngô Quang Nam bên xưởng vẽ.

Suốt thời gian từ năm 1978 đến 1990, ông vừa làm Giám đốc Sở Văn hóa, vừa kiêm Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh. Tháng 4-1990, ông được điều về Hà Nội dự định làm lãnh đạo Vụ Hợp tác quốc tế thì đúng lúc sáp nhập 4 Bộ, thừa cán bộ lãnh đạo nên ông xin làm chuyên môn, Phó Vụ trưởng Vụ Mỹ thuật, rồi tiếp đến 6 năm làm Chánh Văn phòng Bộ, sau đó lại về Vụ Mỹ thuật cho đến khi nghỉ hưu năm 2003.

Có lúc hàn huyên tôi tò mò hỏi, ông tuy là gốc Thái Bình, nhưng cả đời ông đã gắn bó với vùng đất trung du, lại làm rể Phú Thọ nữa, dấu ấn sâu đậm nhất của ông đối với vùng đất này là gì? Ngẫm nghĩ một lúc, ông bảo: “Đời mình lắm truân chuyên, nhưng hóa ra sự truân chuyên ấy cho mình nhiều kỷ niệm.

Nhớ khi mới làm Giám đốc Sở Văn hóa, có lần hai đồng chí Lê Duẩn và Trường Chinh lên làm việc với tỉnh, khi thăm Đền Hùng yêu cầu tỉnh phải xây dựng khu di tích Đền Hùng khang trang, xứng tầm là nơi phát tích cội nguồn của dân tộc. Bí thư tỉnh bấy giờ là ông Hoàng Quy, Chủ tịch tỉnh là ông Lê Huy Ngọ đã thống nhất giao cho Sở Văn hóa chủ trì làm quy hoạch khu Đền Hùng. Đây là lần quy hoạch đầu tiên khu di tích Đền Hùng.

Ngoài các nhà kiến trúc, các nhà khoa học, như Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Giáo sư Phạm Huy Thông, Bộ trưởng Văn hóa Nguyễn Văn Hiếu… cùng các nhà nghiên cứu của Bộ Văn hóa, Bộ Xây dựng, Kiến trúc đã tham gia góp ý kiến cho đề án, Bí thư Hoàng Quy còn mời được kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (tác giả thiết kế công trình Dinh Thống Nhất) ra giúp. Đề án hoàn thành giai đoạn 1, tỉnh được đi báo cáo điển hình. Đây là cơ sở để các bước quy hoạch tiếp theo làm cho khu di tích Đền Hùng được khang trang như ngày nay”.

Ngô Quang Nam còn là tác giả cuốn "Giai thoại Bút Tre" đã tái bản đến lần thứ 10 (không kể các nhà xuất bản địa phương tự ý lấy sách của ông xuất bản). Trước đây, tôi vẫn nghĩ ông phải thân với ông Bút Tre lắm nên mới biết nhiều chuyện như thế. Hóa ra không phải, khi Bút Tre làm Trưởng ty Văn hóa Phú Thọ thì Ngô Quang Nam còn ở Vĩnh Phúc, khi ông về sở Văn hóa Vĩnh Phú thì Bút Tre đã nghỉ hưu. Thực tế Ngô Quang Nam biết và nghe nhiều về Bút Tre và có gặp vài lần.

Ông bảo, đến giờ ông vẫn có hai điều ân hận khi nghĩ đến ông Bút Tre, là khi lần đầu gặp ông Bút Tre và lúc ông Bút Tre mất. Ngô Quang Nam kể: Khoảng năm 1965, bấy giờ giặc Mỹ đang đánh phá miền Bắc, khi ấy ông đang là cán bộ ở Ty văn hóa Vĩnh Phúc, phải thường xuyên trực chiến ở cơ quan. Một buổi chiều gần tối, ông thấy một người đàn ông kẽo kẹt đạp xe vào cơ quan, tự giới thiệu: "Tớ là Bút Tre từ Quảng Bình ra, vừa về đến đây". Thì ra ông Bút Tre vừa dẫn đầu đoàn cán bộ Ty Văn hóa Phú Thọ vào thực tế ở tuyến lửa Quảng Bình bằng xe đạp.

Câu nói "Tiếng hát át tiếng bom" là do ông Bút Tre phát hiện ra từ chuyến đi này. Ông Bút Tre nói: "Cả đoàn đi và về cùng nhau, đến đây mình bảo các cậu ấy về trước, còn mình rẽ vào đây thăm các ông". Ông Bút Tre ngồi chơi nói chuyện đến lúc trời gần tối, rồi lại đạp xe về Phú Thọ. Khi lên xe, ông còn bảo "về tối cho an toàn". Ngô Quang Nam ân hận là tuy ngày ấy khó khăn, sao lại không mời ông được một bữa cơm, dù là đạm bạc.

Lần thứ hai là lúc ông Bút Tre mất, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy về tận nơi viếng, còn Ngô Quang Nam ốm phải nằm viện không về được. Ngày ấy Bút Tre làm thơ và cho xuất bản, bị kiểm điểm, mặc dù nhiều người biết Bút Tre bị oan, nhưng không ai dám nói, kể cả các bài viết bênh vực ông của Nguyễn Hữu Nhàn và Nguyễn Thiện Kế cũng bị vạ lây.

Khi ông Bút Tre mất, Ngô Quang Nam với tư cách Giám đốc Sở Văn hóa đã viết một bài trên Báo Vĩnh Phú nói về những đóng góp của ông Bút Tre với việc phát triển văn hóa của tỉnh. Sau khi báo ra, lãnh đạo tỉnh, trực tiếp là ông Lê Huy Ngọ bảo các cậu hãy minh oan cho ông ấy. Cùng với việc năm 1979, hai nhà văn Nguyễn Đình Thi và Kim Lân lên Vĩnh Phú công tác, nghe chuyện về Bút Tre, có nói cần phải đính chính cho thơ Bút Tre.

Thế là Ngô Quang Nam bắt tay vào sưu tầm các giai thoại về Bút Tre và xuất bản thành sách, như một cách giải tỏa nỗi ân hận của lòng mình. Khi ở Vĩnh Phú, với cương vị là Giám đốc Sở Văn hóa, Ngô Quang Nam còn chịu trách nhiệm xây dựng công trình Bảo tàng Hùng Vương và triển khai công trình "Địa chí Vĩnh Phú", trong đó ông vừa là chủ biên, vừa đóng góp viết chương "Mỹ thuật thời Hùng Vương" (phần lớn nội dung cuốn Địa chí này sau có người copy xuất bản làm của họ, đã bị báo chí phê bình gay gắt).

Mặc dù làm công tác quản lý bận rộn, ông vẫn tranh thủ vào những ngày nghỉ để sáng tác. Thời gian học ở Tiệp Khắc, ông có 3 lần triển lãm tranh cá nhân, từ khi về nước ông đã tổ chức 4 lần triển lãm và chưa năm nào bỏ tham gia triển lãm mỹ thuật toàn quốc. Bằng chất liệu màu nước, sơn dầu và sơn mài, chủ đề thể hiện phong phú, rất gần gũi với đời sống, một góc rừng cọ, một hồ sen, một cây cầu, hay một đỉnh rừng Tây Bắc, một nếp nhà sàn vùng cao…

Cuộc sống và thiên nhiên vào tranh ông một cách tự nhiên mà không gượng ép, bởi tranh ông đều thể hiện bằng đường nét phóng khoáng, mềm mại, duyên dáng, kết hợp giữa nhiều mảng màu đậm nhạt điêu luyện, huyền ảo. Qua mỗi bức tranh đều đậm triết lý về tính nhân - quả giữa con người và thiên nhiên, giữa hiện thực và ước lệ trừu tượng khiến người thưởng thức vừa xem, vừa ngẫm nghĩ thú vị. Ông bảo sâu đậm nhất trong ông vẫn là đề tài về chiến tranh cách mạng.

Các tác phẩm thành công nhất của ông là các tranh: "Thánh Gióng", "Hai Bà Trưng", "Ngã ba Đồng Lộc", "Đường Trường Sơn", "Đường mòn Hồ Chí Minh", "Mười hai ngày đêm đánh Mỹ"… Từ 2003, ông về hưu lại có thêm nhiều thời gian, ngoài vẽ tranh ông còn viết tiểu thuyết và làm thơ. Ông đã có 3 cuốn tiểu thuyết được xuất bản, đó là "Dòng máu" viết về anh hùng Trần Cư (NXB Thanh Niên); "Ngư phong Tướng công" viết về một trong những thủ lĩnh của phong trào Cần Vương là Nguyễn Quang Bích (NXB Văn hóa 2007; NXB Quân đội nhân dân 2009); "Độc Tướng quân" viết về phong trào Đông Du của Đông Kinh Nghĩa Thục, trong đó có ông nội Ngô Quang Nam là cụ Ngô Quang Đoan đã rời Việt Nam một ngày với cụ Phan Châu Trinh sang Hương Cảng gặp cụ Phan Bội Châu để cùng sang Nhật. Ngoài tiểu thuyết, ông còn xuất bản 8 tập thơ.

Tháng Giêng năm nay đến thăm ông, mà vẫn thấy ông miệt mài với giá vẽ. Phòng vẽ của ông ngổn ngang những phác thảo, những bức tranh mới tạm hoàn thành. Ông bảo về hưu ông càng vẽ được nhiều, và đang chuẩn bị cho cuộc triển lãm cá nhân mới. Ông bật mí cho tôi xem trên 100 bức tranh màu nước đã hoàn thành sẽ trưng bày trong triển lãm này. Thưởng thức các tác phẩm đã hoàn thành, bên cạnh những bức vẽ đang hoàn thiện, và những phác thảo mới, tôi có cảm giác rằng họa sỹ Ngô Quang Nam đang thực hiện cuộc đua tốc độ với thời gian.

Hà Văn Thể

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).