“Đứa... đốt rơm” là “đứa” nào?

Bài ca dao “Ngồi buồn đốt một đống rơm” đã có nhiều hướng tiếp cận, phân tích khác nhau: “Ngồi buồn đốt một đống rơm/ Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào/ Khói lên đến tận thiên tào/ Ngọc Hoàng phán hỏi: Đứa nào đốt rơm?”. Trên tinh thần tôn trọng các cách hiểu khoa học, bài viết xin bàn góp một tiếng nói, vẫn có thể là chưa đúng, chưa lột tả cho được cái thần thái hồn cốt của bài ca dao, do vậy xin được lắng nghe, học tập ở những trao đổi, phản biện tiếp theo.

image001.jpg -0
Hình ảnh Ngọc Hoàng trong tín ngưỡng dân gian.

Các phân tích trước đó thường tập trung xoay quanh hình tượng “người đốt rơm”. Một, người đốt là anh nông dân nghèo đại diện cho giai cấp bị trị chống lại Ngọc Hoàng đại diện cho giai cấp thống trị. Vì chẳng có thứ vũ khí nào khác ngoài đống rơm nhỏ bé nên anh ta bèn đốt nó để “chống lại” Ngọc Hoàng. Cái “buồn” chỉ là cái cớ để nhân vật “hành động”. Vì thế vừa ngửi thấy khói là Ngọc Hoàng đã quyết “truy tìm” thủ phạm: “Đứa nào đốt rơm”.

Hai, người đốt là một địa chủ giàu có. Căn cứ vào đâu để nói vậy: vì từ trần gian tới “thiên tào” rất xa nên đống rơm phải rất to mới đủ khói để “vươn tới” trời. Vì là địa chủ cùng giai cấp thống trị với Ngọc Hoàng nên ông ta đốt rơm là một cách xã giao chào hỏi, trước hết là để khoe khoang của nả (giàu có nhiều ruộng cấy nhiều lúa nên có nhiều rơm), sau đó là cầu thân nhằm “liên minh” bóc lột.

Ba, cái người đốt này là một anh nông dân say rượu. Mà ngày xưa thì chuyện chè chén xôi thịt là một tệ nạn. Anh là nạn nhân. Giã rượu rồi buồn đến mức đốt cả đống rơm nhà mình. Anh ta tưởng tượng ra ngọn khói bay lên “thiên tào” và Ngọc Hoàng “ngửi” thấy mùi rơm đốt. Ẩn ý của bài ca dao là chống lại nạn rượu chè be bét bê tha… Bốn, bài ca dao phê phán nạn đốt rơm rạ bừa bãi gây mất vệ sinh môi trường đến mức Ngọc Hoàng - đại diện cho tự nhiên phải “ra tay” trừng phạt…

Xin được lý giải bài ca dao từ lý thuyết biểu tượng và lý thuyết đối thoại.

Trước hết xin có “phản biện”. Về ý “bốn” thì chắc chắn là gán ghép vì đã “hiện đại hóa”, kéo tinh thần nội dung bài ca dao về với ngày hôm nay, trong khi đó tác phẩm đã ra đời từ rất lâu rồi. Thời xưa rơm rạ rất quý không như thời bây giờ đun nấu đã có điện, cày bừa đã có máy nên thu hoạch lúa xong (cũng bằng máy) là đốt rơm rạ đến mức “gây mất vệ sinh môi trường”. Cách hiểu ba, xét trên văn bản không đủ cơ sở để cho rằng người đốt say rượu từ đó tố cáo nạn chè chén… Cách hiểu hai thiên về xã hội học giai cấp coi Ngọc Hoàng cùng là “thống trị”. Đống rơm phải to nên đốt khói mới lên đến trời được là nhận định theo kiểu cơ giới. Cách hiểu ý một cũng đi theo hướng này, không có căn cứ nào để nhận định người nông dân lấy đống rơm làm “vũ khí” (!?). Chắc gì Ngọc Hoàng là kẻ thù của anh nông dân nghèo này?

Xin hình dung về “đống rơm” ngày trước có vai trò, vị trí… như thế nào trong đời sống người nông dân. Là phần thân trên của cây lúa chín, sau khi đưa về nhà tuốt hết hạt thóc, phần còn lại của bông lúa là rơm. Khác với rạ, là phần thân dưới của cây lúa khi gặt sẽ bỏ lại ở ruộng để đưa về sau dùng vào việc lợp nhà và đun nấu. Rơm vàng ươm thường dành làm thức ăn cho trâu bò, còn là nguyên liệu quan trọng để nuôi trồng nấm rơm (một loài nấm chuyên mọc trên rơm).

Rơm còn được trộn đều với bùn ao để trát vách. Rơm phơi khô được dồn vào một chỗ “đánh” thành đống, có nơi gọi là cây rơm. Nhà nào có ruộng nhà ấy có đống rơm. Càng nhiều ruộng đống rơm càng to, dần dần nó trở thành biểu tượng cho sự trù phú, no đủ. Cạnh đống rơm mượt mà là đống rạ xù xì, thô cứng. Thế nên đống rơm “thi vị” hơn, hay được trẻ con chọn làm nơi trốn tìm… Rơm cũng được bà con “yêu quý” hơn. Rơm được bện thành những chiếc chổi quét nhà, quét sân, nhẹ, bền lại óng ả đẹp.

Vào mùa đông rét, khi ra đồng bà con bện chặt rơm thành “nùn rơm” vừa để sưởi ấm vừa có lửa để hút thuốc lào. Đêm mùa đông ngày xưa rất lạnh, thường là đắp chiếu (mấy nhà có chăn bông) nên muốn ấm áp thì nằm ổ rơm. Sau này nhà thơ Nguyễn Duy trong bài “Hơi ấm ổ rơm” nói rất hay, thật và tình cảm: “Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ/ Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm/ Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm/ Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng/ Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm/ Của những cọng rơm xơ xác gầy gò/ Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no/ Riêng cái ấm nồng nàn như lửa/ Cái mộc mạc lên hương của lúa/ Đâu dễ chia cho tất cả mọi người”. Trước đó trong thơ Huy Cận rơm rạ cũng thành thi liệu “Đường làng rơm rạ với mùi thơm” (Đi giữa đường thơm)…

Như vậy rơm rất quý, gần gũi, thân thiết với bà con nông dân. Nên chẳng dễ có người nông dân lương thiện nào “buồn” mà đốt cả đống rơm cả. Chỉ duy đốt rơm vào việc… thui chó. Khi “tháng ba ngày tám” nhàn rỗi hoặc dịp hội hè, giỗ chạp… bà con hay giết chó làm thực phẩm. Vì chó dễ nuôi, không to quá như lợn, lại dễ chế biến làm nhiều món, dễ chia phần,… Thui chó thì dùng rơm là tiện nhất, tốt nhất. Da chó sẽ vàng ươm, không bị nứt. Thịt sẽ thơm và ngon…

Thế thì việc đốt đống rơm kia không phải nghĩa thực, nghĩa đen mà mang nghĩa biểu tượng. Xin đưa ra một dị bản khác: “Làm chay đốt bảy đống rơm/ Khói lên nghi ngút chẳng thơm chút nào/ Ngọc Hoàng phán hỏi Nam Tào/ Ở dưới dương thế đứa nào đốt rơm?”. “Làm chay” là làm lễ cúng, theo quan niệm dân gian xưa, để cầu cho linh hồn người chết được siêu thoát. “Nam Tào” là vị tiên ông trông coi bộ sổ sinh của con người ở trần gian, tức sổ những người được sinh ra đời, gọi là sổ Nam Tào. Như vậy Nam Tào là “cánh tay phải” giúp việc đắc lực cho Ngọc Hoàng. Còn “thiên tào” là nơi đặt “cơ quan” làm việc của cõi trời, người cao nhất là Ngọc Hoàng (còn gọi là Ngọc Đế hoặc Thiên Đế, Ngọc Hoàng Thượng Đế) tức vị vua tối cao của bầu trời, cai quản Thiên đình/tào. Vốn người trần, tu luyện một nghìn bảy trăm năm mươi kiếp, mỗi kiếp mười hai vạn chín nghìn sáu trăm năm mà thành Ngọc Hoàng Thượng Đế để cai quản toàn bộ lục giới: Nhân, Thần, Ma, Yêu, Quỷ, Tiên. Giới thiệu sơ qua như vậy cũng đã thấy Ngọc Hoàng rất nhiều việc lớn lao, trách nhiệm rất ghê… thế mà lại đi chú ý cái việc rất nhỏ bé, vớ vẩn là chuyện “đốt rơm”?

image003.jpg -1
Cây rơm nhà quê.

Xin đọc lại lần nữa văn bản: “Ngồi buồn đốt một đống rơm/ Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào/ Khói lên đến tận thiên tào/ Ngọc Hoàng phán hỏi: Đứa nào đốt rơm?”. Có hai thế giới: trần gian và thiên tào. Có hai nhân vật: anh nông dân “buồn” (được ẩn đi) và Ngọc Hoàng tối cao. Nối hai thế giới này là “khói bay nghi ngút”, dĩ nhiên “chẳng thơm chút nào”.

Dân gian đã kiến tạo một bức tranh tương phản đối lập của mô hình truyện cười dân gian: trên - kẻ có quyền cao vút/ dưới - kẻ lao động nghèo dưới đáy. Cách hiểu này không suy diễn vì căn cứ vào hình tượng bài thơ và liên hệ với tín ngưỡng dân gian, có lẽ ai cũng hiểu vậy. Với người nông dân, rơm quý thế nên lý do dù “buồn” đến mấy cũng chẳng thể dẫn tới hành động đốt cả “đống rơm”.

Vả lại ngày xưa đống rơm, đống rạ gần nhau, thường “đánh” ở trong sân, trong vườn, gần với nhà, với bếp để tiện việc đun nấu và “rút” rơm cho trâu bò ăn, nên đốt đống rơm là việc nguy hiểm dễ gây ra hỏa hoạn… Ngọc Hoàng chức to thế, lẽ ra phải nghĩ đến những việc tầm “vũ trụ” “kinh thiên động địa” chứ sao lại quan tâm đến việc nhỏ nhặt dưới hạ giới có kẻ đốt rơm. Thế nên dứt khoát đây không phải chuyện thật. Đó chỉ là mô hình giả định. Để bật ra ý gì?

Một là, giễu cợt, phê phán những người (nông dân) sống đời sống nhàn nhạt, vô vị, vô công rồi nghề vô tích sự không có ý chí, không hoài bão, không lý tưởng, quanh quẩn, buồn chán vớ vẩn mà làm những việc vô nghĩa, dại dột, chẳng đâu vào đâu, có khi làm thiệt hại đến chính tài sản, thành quả lao động của mình, gia đình mình, thậm chí dễ gây nguy hiểm!

Hai là, phê phán, mỉa mai những kẻ có quyền cao chức trọng nhưng sống như người thừa, không suy nghĩ trăn trở, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu tư duy quản lý  nên không nghĩ được những điều xa xôi, chiến lược nên chỉ biết quan tâm (ngửi) đến cái vặt vãnh, nhỏ bé, tầm thường, ít ý nghĩa, vô giá trị.

Soi vào thời nay vẫn thấy hai loại người này, còn nhiều lắm. Vẫn thế, vẫn vậy, ít thay đổi!

Mới hay dân gian thâm thật. Xin được bạn đọc góp ý!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).