Du ngoạn đền Đô tựa cảnh tiên

Nằm cách Thủ đô Hà Nội 20 km, nếu đi qua quốc lộ 1A cũ hoặc đi đường cao tốc Hà Nội - Bắc Giang có một ngôi đền thiêng thờ 8 vị vua triều Lý mang tên đền Đô. Đền Đô thuộc phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh. Đình Bảng còn có một tên gọi nữa là Cổ Pháp.

Vào thế kỉ VIII- XI, Cổ Pháp là trung tâm Phật giáo với các thiền sư nổi tiếng từ lâu đã đi vào sử sách: Định Không, Thiên Không, Vạn Hạnh... Nhắc đến vùng địa linh nhân kiệt Cổ Pháp, một trong tam cổ của lịch sử Việt Nam, người ta có câu: "Thứ nhất Cổ Bì, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Pháp". Đây là quê hương nhà Lý - triều đại khai mở ra nền văn minh Đại Việt.

Tương truyền đền được xây dựng trên nền đất mà khi xưa vua Lý Công Uẩn lên ngôi chuyển ra kinh thành Thăng Long, ông về thăm quê hương, dừng chân tại đây. Sau này dân làng Đình Bảng đã lấy khu đất này xây một ngôi nhà lớn làm nơi nghênh đón nhà vua. Khi vua Lý Công Uẩn băng hà, Lý Thái Tông lên ngôi đã cho sửa sang lại ngôi nhà xưa làm nơi thờ tự vua cha. Những vị vua ở các triều đại sau, sau khi mất đều được đưa bài vị lên đây để sớm hôm nhang khói.

screen shot 2022-04-03 at 09.40.45.jpg -0
Đền Đô hay còn gọi là Đền Lý Bát Đế.

Do ảnh hưởng dịch COVID-19 diễn ra đã qua ba cái Tết, suốt từ năm Canh Tý sang năm Tân Sửa tới năm Nhâm Dần, đền Đô vắng vẻ không còn cảnh tấp nập như xưa. Dù vậy, sức hấp dẫn của ngôi đền có một không hai này vẫn lôi kéo được số đông du khách thập phương. Năm 1991, đền Đô được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đến năm 1998, Trung tâm nghiên cứu và quy hoạch môi trường đô thị - nông thôn Bộ xây dựng thực hiện. Dự án này đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh phê duyệt: "Quy hoạch tổng thể khu văn hoá các đời vua nhà Lý - xã Đình Bảng". Cuối năm 2014, đền Đô được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt.

Đền Đô nằm trong một giao lộ đặc biệt, cách trung tâm thị xã Từ Sơn chưa đầy 1km, và chưa đầy 2km  là tới chùa Dận (chùa Cổ Pháp - Ứng Thiên Tâm, nơi Lý Công Uẩn ra đời). Người ta truyền tai nhau đền được xây dựng trên đất "Liên hoa bát diệp" đất vượng khí phát tinh hoa 8 đầu của 8 con rồng. Số 8 với người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng là con số rất đẹp, chỉ sự may mắn, thành công, sự thịnh vượng. Số 8 đọc là bát, gọi chệch đi là số phát, phát tài, phát lộc, phát đạt, giàu sang, đại cát đại lợi. Đặc biệt, có sự trùng hợp, đền thờ 8 vị vua triều Lý nên còn có tên gọi là Cổ Pháp Điện.

Đền Đô hay còn gọi là Thái miếu nhà Lý nằm trên thế đất phát lại được quy hoạch thành một tổng thể hài hoà với cảnh sắc thiên nhiên. Vương triều nhà Lý có 9 vị vua nhưng chỉ có 8 vị vua được thờ ở đền Đô, riêng vị vua bà cuối cùng là Lý Chiêu Hoàng để mất ngôi rồi mở ra triều đại nhà Trần nên không được thờ trong đền Đô. Nhân kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, đền Rồng được khánh thành thờ riêng Lý Chiêu Hoàng cách đền Đô 4km.

Đền Đô được xây dựng theo lối kiến trúc nội công ngoại quốc. Nghĩa là kiến trúc bên trong có hình chữ Công, bên ngoài có hình chữ Quốc. Nội thất gồm các công trình: Nhà Hậu cung, nhà Chuyển bồng, nhà Tiền tế, nhà Bia, và nhà để 8 kiệu thờ, nhà để 8 ngựa thờ ở hai bên.

Ngoại thất gồm các công trình: Nhà Vuông (Phượng Đình), đền Vua bà, nhà chủ tế, nhà khách, nhà kho, Ngũ Long Môn, sân Rồng, tượng voi, sấu đá. Kiến trúc đền Đô với bố cục hài hoà cân xứng bề thế giữa cảnh sắc đất trời hòa hợp với thiên nhiên. Tất cả gồm 21 hạng mục công trình xây dựng công phu, chạm khắc độc đáo, tinh xảo. Ấn tượng Hồ bán nguyệt nằm trước cửa đền, mỗi độ khai xuân vào hội, Hồ bán nguyệt  là nơi biểu diễn nghệ thuật múa rối nước và hát quan họ. Thuỷ đình nằm ở giữa hồ nổi lên như một bông hoa sen trên sóng nước trong xanh. Người Đình Bảng truyền câu ca: "Một đoá sen xinh hồ bán nguyệt/ Lung linh hình đất nước quê hương/ Nhớ bến Tiêu tương Quan họ hát/ Trời buông vắng lửa, người người thương".

screen shot 2022-04-03 at 09.40.48.jpg -0
Tượng vua triều Lý.

Ông Nguyễn Tiến Chiến - Trưởng ban Khu Di tích lịch sử Quốc gia đền Đô kể: "Thuỷ Đình được trùng tu và Thạch Kiều quan họ được làm mới năm 2000 do Bộ Tài chính đầu tư kinh phí 900 triệu, thực hiện xã hội hoá việc bảo tồn di sản văn hoá của dân tộc. Nhà nước và nhân dân cùng đầu tư xây dựng".

Nhà Văn chỉ có vị trí đăng đối với khuôn viên nhà Võ chỉ qua trục chính của đền. Trước nhà Văn chỉ là khoảng sân rộng được lát bằng gạch Bát Tràng. Trong khuôn viên có đường dạo, bồn cây, thảm cỏ, tường bao xung quanh và cửa ra vào. Tiền đường gian giữa treo bức hoành phi: "Minh tâm bảo giám". Hậu cung treo bức hoành phi: "Thái Sơn Bắc đẩu". Nơi đây thờ Thái sư Lý Đạo Thành và Tô Hiến Thành hai vị tướng tài của vương triều nhà Lý. Kiến trúc đặc sắc của nhà Văn chỉ là cửa cuốn tò vò và mái cuốn.

Ông Nguyễn Tiến Chiến - Trưởng Ban Khu di tích lịch sử Quốc gia đền Đô cho biết: "Năm 2002, Bộ Quốc phòng đã đầu tư kinh phí 2.200 triệu đồng xây dựng lại nhà Văn chỉ. Hậu duệ của cụ Phùng Khắc Khoan, Trung tướng Phùng Khắc Đăng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã trực tiếp chỉ đạo trùng tu tại nhà Văn chỉ đền Đô. Nhà Võ chỉ ở bên trái giữa nội ngoại thành theo lối kiến trúc truyền thống Bắc bộ, dáng hình gần giống nhà Văn chỉ. Nhà Võ chỉ được xây dựng lại năm 2005. Kinh phí do Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đầu tư".

Hậu cung chính là nơi quan trọng nhất của đền Đô, viên ngọc mắt rồng của Cổ Pháp điện - nơi đặt bài vị của Lý bát đế. Khung nhà được làm bằng gỗ lim. Trạm khắc xà cột ở đây tinh xảo được làm qua đôi bàn tay công phu điêu luyện của các nghệ nhân lành nghề. Trạm khắc rồng, hoa lá, mái lợp ngói ngũ hài, bờ nóc, bờ chảy hoa chanh, chính giữa đắp nổi 3 chữ linh thiêng: "Cổ Pháp Điện".

Tượng Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông được thờ ở vị trí giữa trung tâm, nơi tôn nghiêm nhất của Hậu cung. Tượng 8 vị vua được làm bằng gỗ mít. Trước mỗi tượng đều có hương án. Hương án chạm tinh xảo, sơn son thiếp vàng vô cùng sáng láng. Trên mỗi hương án đặt bài vị thờ tự, khay đài, bộ tam sự (1 đỉnh gương và 2 con hạc) tất cả đều được làm bằng đồng có rùa đội cây đèn, song bình cắm hoa, các đài quả và nến.

Ông Nguyễn Đức Thìn, chủ nhiệm CLB Thơ đền Đô đã có những câu nức lòng: "Người về Đình Bảng cùng thơ/ Tiêu tương in bóng ngẩn ngơ cõi lòng/ Duyên thơ, đức sáng, tâm trong/ Hội đền Đô nức Thăng Long xuân đời."

Hội đền Đô được tổ chức hằng năm theo cổ lệ vào ngày 15 tháng 3 âm lịch  kéo dài 4 ngày (14, 15, 16, 17 ) nay được tổ chức gọn lại trong ba ngày 14, 15, 16 tháng 3 âm lịch. Chính hội 15 tháng 3, ngày trăng tròn nhất của mùa xuân, mùa màng tốt tươi, cây cối đâm chồi nảy lộc, sự thịnh vượng và phát triển. Tương truyền, đó là lễ hội kỉ niệm ngày Lý Thái Tổ đăng quang  (15-3 năm Canh Tuất 1010). Ngày ấy tốt lành vào giờ chính Ngọ - 12 giờ trưa, Lý Thái Tổ làm lễ tế đất trời, đặt niên hiệu là Thuận Thiên (thuận theo ý trời) cầu mong mưa thuận gió hoà, thiên hạ thái bình, vị vua đầu triều Lý đã ban Chiếu dời đô.

Năm 1946, chiến tranh nổ ra, lễ hội đền Đô bị gián đoạn. Năm 1949, giặc Pháp chiếm đóng Đình Bảng. Năm 1952, đền Đô bị giặc Pháp phá huỷ. Sau ngày quê hương được giải phóng, hội làng chọn ngày 15 tháng 3 âm lịch làm chính hội. Năm 1989, khởi công xây dựng lại đền Đô, Lễ hội đền Đô được mở lại vô cùng tấp nập, đông vui nhưng cũng không kém phần trang trọng, nhiều trò chơi dân gian được khôi phục.

Ông Nguyễn Tiến Chiến Trưởng BQL Di tích lịch sử Quốc gia đền Đô khẳng định: "Lễ hội đền Đô là biểu trưng của một bảo tàng đời sống tâm linh người Việt, nơi tụ hội nhiều phong tục văn hoá, nghệ thuật, lịch sử của dân tộc. Lễ hội đền Đô là nơi giao thoa văn hoá của các làng bản, sự cố kết chặt chẽ trong cộng đồng người Việt để hướng đến một cuộc sống an lành, tốt đẹp. Đáng tiếc trong suốt 3 năm nay, lượng du khách đổ về đền chưa bằng 1/10 những năm trước do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Nhà đền liên tục có nhiều tháng phải đóng cửa, hay đến mùa lễ hội chỉ duy trì phần Lễ mà phải bỏ phần Hội. Nhưng, hiện nay, sau nhiều đợt tiêm phủ vacxin ở diện rộng trong cả nước thì nhà đền đã mở cửa đón du khách của mọi miền Tổ quốc đổ về, tuy còn thưa thớt nhưng dần có tín hiệu khả quan".

Trần Mỹ Hiền

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).