Dòng chảy tiếng cười

Không chỉ là sứ giả kết nối văn hóa giữa người với người, cộng đồng này với cộng đồng kia, tiếng cười còn là món ăn tinh thần giải trí, là thứ vũ khí đấu tranh để con người mở đường đến với tự do, với sự vui vẻ, thoải mái... Tiếng cười là một phạm trù cơ bản của mỹ học.

Văn học trung đại Việt Nam nói chung nặng về tính quy phạm với mục đích đề cao tính chất giáo huấn, coi trọng tư tưởng trung quân ái quốc. Vì thế nó ưa tìm đến những khuôn mẫu, điển phạm, quy phạm, niêm luật chặt chẽ cùng một thứ ngôn ngữ trang nhã, giàu điển tích. Nhưng đối với tiếng cười không biết sợ và không bao giờ chịu làm tù binh cho một thứ quy phạm nào thì nó luôn tự do. Điều này lý giải thời trung đại tiếng cười ít xuất hiện trong văn học chữ Hán.

Nhưng với những tài năng lớn thì luôn biết vượt qua cái con dốc mỹ học thời đại để vươn lên làm chủ thể loại mà Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến... là tiêu biểu. Cái thiên tài của họ lại thể hiện ở chỗ vẫn tuân theo quy định của đặc trưng thể loại mà lại vượt thóat khỏi cái khuôn công thức, coi thể loại chỉ là một trò chơi của tiếng cười. Có thể gọi đấy là hiện tượng nhại thể loại, chơi thể loại mà Hồ Xuân Hương là một biểu hiện tuyệt vời.

Dòng chảy tiếng cười -0
Hề chèo!

Như một dòng chảy, từ thượng nguồn folklore dân gian, chảy qua các vùng miền văn hóa được màu mỡ phù sa tâm hồn và trí tuệ dân gian bồi đắp, tiếng cười ngày càng giàu có, tươi mới thêm. Càng chảy về miền hiện đại tiếng cười càng đa sắc, đa cung bậc, phong phú, cường tráng và mạnh mẽ. Tiếng cười thời trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tiếng cười dân gian ở nhiều cấp độ như đối tượng cười, cung bậc, sắc thái cười, ngôn ngữ cười… Tiếng cười dân gian vang lên rõ hơn cả ở tiếng cười hội hè và tiếng cười trên sân khấu chèo.

Là kết tinh của cuộc sống phồn thực, trào tiếu sống động, khỏe mạnh tiếng cười dân gian với muôn vàn sắc thái vang lên từ xã hội nông thôn Việt Nam. Những cái gì xấu đều bị đem ra làm trò cười: keo kiệt, bủn xỉn, hống hách, dốt nát, sợ vợ, học đòi làm sang,… Một đặc điểm bao trùm là tất cả những gì đáng cười đáng giễu đều bị thông tục hóa, phàm tục hóa.

Truyện “Tao thèm quá” tuy kể về ông vua dưới âm phủ nhưng cũng là một cách bóng gió nói về ông vua trên dương thế. Oan hồn của con lợn bị giết xuống cõi âm tố cáo với Diêm Vương về tội ác của bọn đồ tể: chọc tiết, cạo lông phanh thịt, chặt ra từng miếng rồi cho vào chảo mỡ đang phi hành, tra thêm mắm muối… Diêm Vương vội ngăn lại: “Thôi, thôi, đừng nói nữa… Tao thèm quá!”. Tiếng cười bật ra làm lộ rõ nguyên hình một công lý giả dối: Diêm Vương chuyên làm cái việc “xử án” những kẻ có tội nhưng chính cái sự “thèm (ăn) quá” đã lật tẩy bản chất giả dối chẳng có gì là công tâm liêm khiết chính trực cả.

Vua trong tiếng cười Trạng Quỳnh còn thảm hại hơn nhiều, cũng ươn hèn, dốt nát, tham ăn… (Dê đực chửa, Vua Lê mất mèo, Đào trường thọ…). Truyện “Cứ bảo tuổi Sửu” đả kích sâu cay thói tham nhũng hối lộ. Đồn rằng ông huyện nọ rất thanh liêm. Có làng nọ, muốn nhờ quan bênh cho được kiện bèn tìm cách đút lót bà huyện. Bà huyện nói quan nhà tôi tuổi “Tí”, dân làng đúc một con chuột bằng bạc mang đến, tôi thử cố nói giùm cho. Thế là dân làng thắng kiện. Thời gian sau quan về hưu, chợt nhìn thấy con chuột bạc, hỏi vợ biết rõ đầu đuôi, quan ta liền mắng: “Ngu vậy! Lại đi bảo là tuổi “Tí”! Cứ bảo tuổi “Sửu” có được không?”. Chỉ một câu nói mà cái mặt nạ liêm khiết rơi xuống, chân tướng quan tham hiện ra: Thì ra cái sự đạo đức thời đương chức của quan chỉ là lớp tráng men bên ngoài!

Để làm tốt chức năng hạ bệ, phanh phui lật tẩy những gì là bóng bẩy hào nhóang bên ngoài làm trơ ra những gì là thảm hại, xấu xa, đáng ghét, tiếng cười thường dùng đến phương pháp mâu thuẫn tương phản. Tương phản với những cái được gọi là cao quý sang trọng của kẻ có thế lực, kẻ áp bức thì chỉ có thể là những gì thông tục nhất của cuộc sống thường dân. Điều này lý giải tại sao tiếng cười dân gian và cả bác học hay dùng đến phương tiện cái tục. Ở thế giới của sự đứng đắn đúng mực không có tiếng cười. Chỉ có sự nhố nhăng lại làm ra vẻ nghiêm chỉnh mới đáng cười.

Theo lẽ thông thường viên lý trưởng nọ là “phụ mẫu chi dân” nhưng bị dân gian biến thành con chó chui gầm giường cất tiếng sủa gâu gâu. Thầy đồ lẽ ra phải mô phạm “chiếu trải không thẳng không ngồi, thịt thái không vuông không ăn” mà bị chị nhà quê bắt chui vào trốn trong đống váy đàn bà. Nhà sư phải “thành tâm quả dục” cũng chịu phép của người đàn bà ngồi vào cái rọ để bị treo lên xà nhà. Cuối cùng tất cả đều bị đánh bằng cái roi của anh chồng dân đen (“Nam mô boong”). Truyện này rất tiêu biểu cho nguyên tắc thông tục hóa, vật hóa của tiếng cười dân gian.

Ở khu vực ca dao trào phúng, thông tục hóa cũng là một nguyên tắc. Trong quan niệm chính thống thì bậc nam nhi là: “Làm trai cho đáng nên trai/ Xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài yên” còn trong tiếng cười lại là:  Vì “lộn ngược” với lẽ thông thường, thế nên “anh hùng” trong tiếng cười ca dao là “anh hùng rơm” chỉ cần cho một “mồi lửa hết cơn anh hùng”…

Sinh hoạt trong vùng văn minh nông nghiệp, khoảng thời gian giữa các (hai) mùa vụ tương đối xa nên người lao động có nhiều dịp để tổ chức hội hè. Toát ra từ các không gian lễ hội phong phú và náo nhiệt này là tiếng cười đa sắc, giàu có ý nghĩa. Cả một thế giới hoạt động tưng bừng vui vẻ biểu hiện khát vọng ước ao của con người qua các trò chơi dân dã, hồn nhiên mà trí tuệ. Nghiên cứu, tìm hiểu tâm lý tính cách dân tộc không thể bỏ qua các lễ hội này.

image003.jpg -0
Tranh trào phúng Đông Hồ - “Đánh ghen”!

Chảy ra từ mạch nguồn dân gian, tiếng cười trong văn học viết được gọt dũa, nâng cao tạo ra một sức sống mới. Được soi chiếu bởi hai nguồn sáng mỹ học dân gian và mỹ học bác học (thường là các nhà Nho) nên tiếng cười trong văn học trung đại lóng lánh đa dạng tính chất, phong phú các sắc điệu, giàu có các cung bậc. Vừa có cái khỏe khoắn, lành mạnh, trẻ trung, phồn sinh, phồn thực của sức sống mạnh mẽ dân gian, vừa có cái uyên bác, thâm thuý, tinh tế, sắc sảo của triết lý bác học. Là biểu hiện văn hóa của tâm hồn dân tộc, của lịch sử, thời đại, tiếng cười cũng là biểu hiện tâm hồn, tính cách cá nhân chủ thể.

Tinh thần yêu chuộng đạo lý chính nghĩa, yêu tự do, yêu đất nước, hòa cùng khí thế ngút trời đuổi giặc Minh ở thế kỷ XV đã kết tinh ở ngòi bút Nguyễn Trãi để bật ra tiếng cười làm tan nhuệ khí của kẻ xâm lăng phi nghĩa. Tiếng cười còn là trí tuệ, là cách sống, lối sống, lối ứng xử văn hóa. Phải đọc thông bao sách vở, thông hiểu nghĩa lý bao đời của văn hóa phương Đông thì tiếng cười Nguyễn Bỉnh Khiêm mới sâu sắc, triết lý được như vậy. Phải sống, chứng kiến, phải đau đời trước bao cảnh lố lăng, Nguyễn Khuyến, Tú Xương mới có được tiếng cười mỉa đời, nhạo đời chua chát, thấm mà đau…

Khu rừng mênh mang giàu có tiếng cười trong văn học trung đại có nhiều bậc đại thụ lực lưỡng, cường tráng cắm sâu bộ rễ rất khỏe vào hai mảnh đất phương Đông và truyền thống dân tộc để hút dinh dưỡng văn hóa rồi vươn cao cành lá lên bầu trời hòa bình mà quang hợp ánh sáng nhân văn tiên tiến của thời đại, của nhân loại. Âm vang tiếng cười của các đại thụ tư tưởng ấy vọng mãi tới hôm nay và mai sau, vọng ra cả thế giới để khẳng định bản lĩnh lạc quan, yêu đời, yêu công lý chính nghĩa, tính cách trí tuệ, hài hước, hóm hỉnh Việt Nam.

Vốn giàu có về tài nguyên tư tưởng, tinh thần, khu rừng ấy lại khoác nhiều màu áo thể loại nên đa dạng về mô hình, phong phú về dạng vẻ, tươi mới, tinh tế về sắc thái. Mỗi tiếng cười lớn ấy trở thành một cổ mẫu chứa trong nó sự trẻ trung sinh lực văn hóa, khỏe khoắn, tươi mới tinh thần lạc quan, khát vọng sống, mạnh mẽ ý chí, phơi phới niềm tin. Nó sẽ sản sinh và nuôi dưỡng biết bao những mẫu con sau này. Lịch sử cứ tiếp tục đi lên không ngừng nghỉ. Miền thượng nguồn tràn trề năng lượng, tất yếu vùng hạ lưu sẽ dồi dào sức sống!

Ở xã hội nào cũng cần đến tiếng cười, không chỉ là món ăn văn hóa tinh thần, nó còn là thứ vũ khí chống lại cái xấu, cái lỗi thời lạc hậu... Thời hôm nay đang rất cần những tiếng cười phanh phui, loại bỏ cái tham nhũng, cái đạo đức giả, cái thói ích kỷ vô cảm, cái đố kỵ, cái thói “làm giả ăn thật”... Sẽ có nhiều tiếng cười mới vang lên!

Nguyễn Thanh Tú 

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).