Đôi mắt Người còn soi bóng sông quê

Tôi về với Huế mộng mơ trong sương mùa đông phủ kín dòng sông Hương. Một cơn mưa nhẹ rớt, lạnh buốt ngón tay. Những giọt nước mưa như kim thêu xuống mặt nước. Bỗng ai đó cất tiếng hò từ mái thuyền bồng bềnh xa xa mờ mịt. Cầu hò chầm chậm buông từng lời: “Thương em anh cũng muốn vô/ Sợ Truông Nhà Hồ sợ Phá Tam Giang”.

Tôi về với Huế mộng mơ trong sương mùa đông phủ kín dòng sông Hương. Một cơn mưa nhẹ rớt, lạnh buốt ngón tay. Những giọt nước mưa như kim thêu xuống mặt nước. Bỗng ai đó cất tiếng hò từ mái thuyền bồng bềnh xa xa mờ mịt. Cầu hò chầm chậm buông từng lời: “Thương em anh cũng muốn vô/ Sợ Truông Nhà Hồ sợ Phá Tam Giang”. Tôi rùng mình với nỗi thương cảm bâng khuâng. Con thuyền đưa tôi dần về phía chợ Nọ ở Dương Nỗ (tỉnh Thừa Thiên Huế) lúc nào không hay. Phía trước khu “Di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh” hiện ra với hàng cây xanh mướt. Những ký ức về một tuổi thơ của cậu bé Nguyễn Sinh Cung (tên khai sinh của Bác Hồ) bỗng tràn về như ánh sáng tỏa lan xóa tan màn sương trên mặt sông Phổ Lợi.

2-khu di tích luu ni%3fm ch%3f t%3fch h%3f chí minh t%3fi duong n%3f (t%3fnh th%3fa thiên hu%3f).jpg -0
Khu Di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại làng Dương Nỗ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang (nay là TP Huế), tỉnh Thừa Thiên Huế.

Sương tan và nắng lên. Câu hò sông Hương làm tôi nhớ tới một cuộc bộ hành không tưởng của bà Hoàng Thị Loan với hai con đi vào Huế. Khi đó thầy đồ cử nhân Nguyễn Sinh Sắc vẫn còn ở lại Huế chờ thi Hội tiếp lần hai (1895). Ông cần vợ con vào để đỡ đần khó khăn và trực tiếp dạy dỗ hai con trai. Thật khó hình dung ba mẹ con bà đi từ Nam Đàn - Nghệ An vào Huế bằng cách nào. Họ đi bộ cùng quang gánh đồ đạc trên vai. Cho dù “Phá Tam Giang ngày rày đã cạn/ Truông Nhà Hồ nội tán cấm nghiêm” nhưng đường xá xa xôi, núi đèo hiểm trở, cả nhà ngày đêm lần đường về Huế. Dòng sông Hương cũng vật vã khúc cạn khúc sâu cùng với: “Sương sa, gió thổi lạnh lùng/ Sóng xao trăng lặn, chạnh lòng nhớ thương”. Thế rồi cả tháng trời bà Hoàng Thị Loan mới đưa được hai con hội ngộ với cha bên chợ Đông Ba.

Đó là câu chuyện mở đầu mà cô hướng dẫn viên tại khu di tích kể cho chúng tôi nghe. Rồi cô tiếp tục cho biết, khi đó ông Nguyên Sinh Sắc tìm thuê được căn nhà trong khu kinh thành trên đường Đông Ba (nay chính là số 112 Mai Thúc Loan). Cuộc sống của gia đình thí sinh nghèo đạm bạc trên dòng sông Hương rất khó khăn. Những lúc thưa đèn sách ông Nguyễn Sinh Sắc bốc thuốc chữa bệnh giúp bà con xóm phố. Còn bà Hoàng Thị Loan vừa dệt vải, vừa chạy chợ lần hồi từng ngày nuôi chồng và các con ăn học. Nhưng rồi trời không chiều lòng người. Thời buổi thóc cao gạo kém, cuộc đời bươn trải gian truân trước sự đô hộ của thực dân Pháp. Cuộc sống ngày càng khó khăn khi ông Nguyễn Sinh Sắc không vượt qua kỳ thi lần thứ hai.

Để đỡ cho vợ khỏi chịu nhiều vất vả vì sức khỏe yếu ớt, ông Nguyễn Sinh Sắc đã dọn về thôn Dương Nỗ (cách kinh thành Huế 7 cây số) cùng với hai con trai (1898). Ông quyết tâm thi Hội lần thứ ba nên cố bám trụ lại Huế. Bà Hoàng Thị Loan vẫn ở lại đường Mai Thúc Loan với cơ nhỡ bụng mang dạ chửa. Tại thôn Dương Nỗ (xã Phú Dương, huyện Phú Vang) ông Nguyễn Sinh Sắc được một người có chức sắc trong làng mời về mở lớp. Chính tại nơi đây ông đã dạy trực tiếp hai con những bài học chữ Hán đầu tiên. Ông vừa lên lớp vừa tự trui rèn để chuẩn bị cho cuộc thi Hội lần thứ ba.

Ý chí vươn lên mãnh liệt của cha đã lay động tâm hồn Nguyễn Sinh Cung. Những âm thanh con chữ đầu tiên cậu Nguyễn Sinh Cung đã đọc vang trên bến đá sông Phổ Lợi. Nét chữ “Nhân” chữ “Nghĩa” cậu cũng đã tô đậm trên sân đình Dương Nỗ. Một chốn quê nghèo bên sông chợ Nọ đã trở nên thân thiết với cậu. Những người bạn mới trong thôn thường rủ cậu đi câu hay ra đền Am Bà ở thôn bên học bài. Dòng sông Phổ Lợi được khơi đào từ một kênh nhỏ rộng hơn 40 mét tạo nên dòng nước trong xanh thơ mộng. Nước sông Hương trôi về đây những con thuyền đầy ắp nụ cười trong ngày hội xuân hàng năm của xã Phú Dương.

8-ðình làng duong n%3f – noi c%3fu bé nguy%3fn sinh cung thu%3fng ra choi và h%3fc bài.jpg -1
Đình làng Dương Nỗ – nơi cậu bé Nguyễn Sinh Cung thường ra chơi và học bài.

Người dân thôn Dương Nỗ mỗi khi qua Bến Đá luôn nhớ bóng cậu Cung ngày nào. Cậu giặt chiếc áo cho cha rồi có lúc hướng về con đò từ sông Hương chở hàng chợ Nọ đi qua. Đó là những thuyền chở hoa và bánh tét sản phẩm của Phú Dương về mấy thôn dưới. Cậu khỏa chân xuống nước rồi chợt lắng nghe câu hò Nam ai buồn nôn nao trên sóng nước: “Chiều chiều trước bến Văn Lâu/ Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm/ Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông/ Thuyền ai thấp thoáng bên sông/ Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non…”.

Nhưng cuộc đời thật trớ trêu, gần đến ngày cha vào trường thi, gia đình cậu Nguyễn Sinh Cung lại gặp chuyện chẳng lành. Mẹ cậu bị ốm nặng sau khi sinh nở con thứ tư (1900). Từ đó Nguyễn Sinh Cung rời Dương Nỗ về lại Mai Thúc Loan để trông em giúp mẹ. Nhưng tai họa ập đến khó lường. Mẹ cậu mất rồi ít tháng sau người em mới sinh yểu mệnh cũng từ giã cuộc đời. Sự thật nghiệt ngã xiết bao: “Ngày đi vạn lý kinh kỳ/ Đường về mỗi bước chân đi xót lòng”.

Cô hướng dẫn viên dừng lại nghẹn ngào kể, ông Nguyễn Sinh Sắc đưa các con về quê gửi nhạc mẫu rồi vội vã vào Huế dự Khoa thi Hội năm Tân Sửu (1901). Lần này ông đỗ Phó Bảng. Quả là một năm biến động thật dữ dội với cậu Nguyễn Sinh Cung. Hai ngôi nhà thân thương ở Huế gắn bó với tuổi thiếu niên của cậu đã trở thành dĩ vãng. Cậu về quê trong lòng vời vợi nỗi sầu vương từ kinh thành Huế đầy duyên nợ. Chúng tôi bồi hồi bước vào phía trong ngôi nhà lưu niệm ngỡ như dấu chân tuổi thơ Bác vẫn còn in dấu trên thềm gạch cổ phong. Những nét chữ vẫn còn tô mờ bên bức vách tường vôi. Hàng cây xanh cùng những bông hoa dâm bụt đỏ thắm trong nắng xuân chan hòa trên dòng sông Phổ Lợi. Vẫn còn đó bến đá dưới bóng cây bồ đề hắt từ đình xanh rợp. Nghĩa tình ấm áp của bà con thành cổ và bạn bè thân thiết bên đình Dương Nỗ luôn như có lời hẹn cậu Cung một ngày sẽ trở lại. Những bông hoa lục bình tím biếc đang trôi đi cùng đám mây in bóng trên dòng sông xanh trong.

Đôi mắt cô hướng dẫn viên bỗng sáng ngời khi kể chuyện lần thứ hai cậu Nguyễn Sinh Cung đã trở lại Huế (tháng 8 năm 1906). Hai anh em cậu theo cha vào kinh đô Huế nhậm chức và làm việc tại kinh thành. Ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc đã đổi tên là Nguyễn Sinh Huy. Ông cũng đặt tên cho Nguyễn Sinh Cung là Nguyễn Tất Thành, còn Nguyễn Sinh Khiêm là Nguyễn Tất Đạt. Sau khi nhậm chức, ba bố con ông Phó Bảng được phân ở trong dẫy nhà quan tại kinh thành. Sự biến động lớn trong trí tuệ và tâm hồn của Nguyễn Tất Thành bắt đầu từ giai đoạn này. Khi đó cậu đã ở tuổi 16, học tại trường Pháp Việt - Đông Ba trong hai niên khóa (1906-1908). Rồi sau đó Nguyễn Tất Thành được chọn đặc cách vào Trường Quốc học Huế với trí tuệ thông minh vượt bậc (1908-1909).

Người dân Huế vào thời gian này vô cùng khốn khó. Thực dân Pháp ra sức bóc lột người lao động. Chúng tăng cường thuế má và đánh đập dân lành thật tàn bạo. Nhiều cuộc biểu tình khắp nơi nổi lên đã lôi cuốn phong trào thanh niên sinh viên cùng góp sức. Thanh niên Nguyễn Tất Thành hăng hái tham gia biểu tình chống thuế với đồng bào thành Huế. Tấm gương đầy nhiệt huyết của Nguyễn Tất Thành đã gây dựng phong trào sôi nổi trong các trường học ở Huế. Từ đây chí lớn tìm đường cứu nước của chàng trai Nguyễn Tất Thành càng nung nấu sục sôi. Nhưng vào tháng 7 năm 1909, ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy được thăng chức bổ nhiệm về làm Tri huyện Bình Khê ở Bình Định. Nguyễn Tất Thành theo cha rời Huế rồi tiếp tục sự nghiệp cách mạng cứu nước từ đó. Nay ai cũng biết chàng trai Nguyễn Tất Thành ngày ấy chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này.

Chúng tôi bồi hồi cùng bao ký ức tràn về trong mỗi lời tâm tình của cô gái Huế. Vậy là hai lần về với sông Hương Núi Ngự, nhân cách của Bác Hồ thời trẻ đã hình thành sâu sắc. Đặc biệt với những chí sĩ thành Huế cùng người cha đã trui rèn ý chí cách mạng cho Người ở tuổi thanh niên (từ 16 tới 19 tuổi) ngày càng mạnh mẽ hơn. Sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn với người dân xứ Huế là nơi đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn Người. Những ngôi nhà mà Người ở tuổi thiếu niên luôn còn đó. Dòng sông Hương vẫn êm đềm thơ mộng như ngày nào. Cây đa sân đình Dương Nỗ vẫn ngóng Người trở về mỗi tháng năm tưởng nhớ. Khi đó mọi người dân Huế kết đầy hoa đăng thả trên dòng sông Hương. Những bông hoa sen tràn ngập ánh sáng cuốn theo dòng nước Phổ Lợi trôi ra biển Đông.

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).