Đôi điều về sự đổi mới thơ Việt Nam đương đại

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu: "Lãng Thanh xứng đáng có một chỗ riêng. Anh mới mẻ mà không bệnh hoạn, táo bạo mà không dung tục như một số cây bút trẻ ôm mộng cách tân khác" (báo Thể thao và Văn hóa, 28/1/2005). Rồi Trịnh Thanh Sơn, Phạm Đức, Thiên Sơn coi Lãng Thanh là "Hạt mầm mới của một thời đại thi ca".

1. Hiện tượng Lãng Thanh

Mười năm qua, một số tác giả nhiệt huyết với việc đổi mới ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại đã được báo chí nói đến nhiều. Ở đây, chúng tôi thấy cần nhắc tới hiện tượng Lãng Thanh. Tập thơ "Hoa" của anh, NXB Thanh niên ấn hành năm 2003, gồm 14 bài, Hội Nhà văn trao Giải thưởng năm 2004.

Đây là tập thơ với bút pháp khá lạ, tác giả sinh năm 1977, và thật đau buồn, do một tai họa bi thảm, anh đã qua đời ngày 20/7/2002, khi mới 25 tuổi đời. Lãng Thanh thành một hiện tượng, khá nhiều tác giả văn học và báo chí nhắc tới. Nhà thơ Trúc Thông: "Hẳn Lãng Thanh phải yêu thơ Hàn Mặc Tử lắm và để hồn thơ Hàn Mặc Tử thấm rất sâu vào mình".

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu: "Lãng Thanh xứng đáng có một chỗ riêng. Anh mới mẻ mà không bệnh hoạn, táo bạo mà không dung tục như một số cây bút trẻ ôm mộng cách tân khác" (báo Thể thao và Văn hóa, 28/1/2005). Rồi Trịnh Thanh Sơn, Phạm Đức, Thiên Sơn coi Lãng Thanh là "Hạt mầm mới của một thời đại thi ca".

Trịnh Thanh Sơn trích thơ Lãng Thanh: "Máu là các quy luật, chân lý hay tình yêu/ Nối giữa con người với đá, nối đá với bầu trời, dòng sông và nước mắt", rồi bình: "Anh quan niệm vũ trụ có chung một huyết thống… Cho nên anh Ngờ phạm tội loạn luân từ nỗi cảm ruột thịt với bông Trà"… Trong sự phấn hứng, người bình thơ nói cả tới "quan niệm vũ trụ" của thi sĩ trẻ Lãng Thanh(!) Nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì viết một bài dồi dào cảm hứng: Lãng Thanh "Gương mặt em phi như điên cuồng" (Báo Tiền Phong chủ nhật, 20/7/2003).

Nhà thơ Lãng Thanh tài hoa nhưng yểu mệnh.
Nhà thơ Lãng Thanh tài hoa nhưng yểu mệnh.

Mười bốn bài thơ, đã hơn mười năm trôi qua, nay viết về Thơ Việt Nam hiện đại - đương đại, chúng tôi đọc "Hoa" để nhìn nhận Lãng Thanh trên chuyển động của thơ Việt. Bút pháp mới của thi sĩ này kế tục Thơ mới, khá gần với Chế Lan Viên: "Tôi trầm ngâm dạo trong nhà bảo tàng/ Nghe hàm răng đá cười sáu nghìn năm trong miệng đất/ Tiếng loảng xoảng gươm khua, tiếng hát ru từ các bộ xương" (bài "Những mảnh vỡ");

gần với thơ điên của Hàn Mặc Tử: "Nét cuồng thảo vọt như máu, ngưng như lệ…/ Điên cuồng chữ bay, điên cuồng chữ bay" (bài "Thư pháp"); nhiều khi thấy rõ anh là môn đệ của thơ Lãng mạn: "Nhạc reo xa thoáng lạnh từng chân tóc/ Cỏ thu xa vuốt ve đôi mắt đẹp/ Chiều có thể nghiêng, mưa có thể buông…" (bài "Mùa thu I").

Không chỉ một lần Lãng Thanh nhắc tới Charles Baudelaire, nhà thơ lớn của Pháp mở đầu cho chủ nghĩa Tượng trưng, nên ta thấy yếu tố tượng trưng khá rõ trong thơ Lãng Thanh: "Con mèo đen - vẻ dịu dàng hòa quyện vào nỗi buồn câm lặng/ Con mèo đen - mèo đen tỏa ngát tâm hồn/ Mèo đen - sự huyền bí như bóng đêm đè nặng" (bài "Con mèo đen").

Nhiều khi Lãng Thanh hiện thực trần trụi: "Mấy người hành khất đang ngồi nhặt hoa/ Rủa những cành hoa rơi bẩn trên chỗ ngồi của họ/ Nhìn buồn tênh lên hàng chữ quảng cáo/ Thõng đôi tay khô chết như nhân sâm" (bài "Ghi chép nhỏ").

Lãng Thanh chắc đọc rất nhiều, như người ta khen là "đọc cả Đông, Tây, Kim, Cổ…", nhưng vậy đã đủ chưa, khi phần sự sống dội vào anh để lọc qua tâm hồn, thành thơ anh, được là bao? Do lợi thế của một tâm hồn măng trẻ với trí tưởng tượng phong phú được hoàn toàn buông thả, mà hay viết về những buồn thương, máu, lệ, khiến người đọc dễ cảm thương. Trong tập thơ "Hoa", bài dài nhất, viết công phu nhất, là bài "Thơ trước tuổi 21", gồm các đoạn từ I đến IX, ngôn ngữ tự do buông lỏng nhất cả trong cảm xúc, trong suy ngẫm.

Buông lỏng cảm xúc: "Không bên hàng cây, cây đẹp; không bên bờ suối, suối đẹp; Không hò hẹn, không bâng khuâng; không hò hẹn, không bâng khâng; Không lời khen chê cho đôi môi/ - Là tình yêu của em". Buông lỏng suy ngẫm: "Sự vĩ đại của cỏ/ Sự vĩ đại của thơ/ Vô nghĩa như một chữ cái lớn"… Chúng tôi cố gắng trích dẫn những câu thơ gây ấn tượng tốt của Lãng Thanh, nhưng những câu thơ như vậy đã đạt tới cái hay chưa, người đọc tự kết luận.

Một chi tiết chúng tôi rất tán thành với nhà thơ Trần Mạnh Hảo, bài "Thơ trước tuổi 21", dài khoảng 240 dòng, có thể tách riêng đoạn IV ra, sẽ được một bài thơ với 12 câu, "là bài thơ hay hoàn chỉnh", và đặt tên bài thơ là "Em" (Báo Tiền phong chủ nhật, 20/7/2003):

     Em đến bàng hoàng như cơn sốt
     Bỗng môi tôi bất lực
     Nụ hôn ơi người khóa cả linh hồn

     Em đến bất ngờ như dao sắc
     Không đùa tựa những vết thương
     Bởi gai hoa tặng chán chường

     Em đến vùng vằng như tơ rối
     Tìm nhau xa đến không ngờ
     Trói anh rồi em lại làm ngơ

     Em đến lao đao như lá rụng
     Ngày xanh là nghĩa thế nào
     Về bên anh khi đã chết rồi sao.

Chúng tôi nghĩ rằng, những tri thức, vốn liếng thi ca Lãng Thanh có trong trí não, tâm hồn là khá nhiều, đến khúc IV trong "Thơ trước tuổi 21", thi sĩ này viết nên một bài thơ hoàn chỉnh về cấu tứ và ngôn ngữ thơ. Đọc Lãng Thanh, những bài, những khúc buông lỏng cấu trúc và để ý thơ như trôi miên man, chúng tôi thấy cũng khá gần với thơ mông lung của Cố Thành.

Còn kỳ vọng về thi tài anh sẽ làm một bước nữa cho thơ đi xa hơn, như người đời nghĩ, có lẽ nhiều. Lãng Thanh để lại một ấn tượng thật đẹp trong đời sống thơ ca đương đại. Nhưng thật buồn, thương tiếc anh vô cùng!

Tập thơ của Lãng Thanh.
Tập thơ của Lãng Thanh.

2. Thơ Việt hiện đại - hậu hiện đại

Sự đổi mới Thơ Việt Nam đương đại theo hướng hiện đại chủ nghĩa, đã diễn ra trong đời sống văn chương mấy chục năm rồi. Có lúc bột phát, một vài nhà thơ còn muốn có thơ "siêu hiện đại" (những năm gần đây một số người muốn gán cho thơ ấy cái tên là "hậu hiện đại"). Ở ta nó vậy, như hiện tượng đời sống những năm cuối thế kỷ XX, người ta mang những chiếc xe máy, xe đạp cũ từ Nhật Bản về, trông còn rất xịn, do nghèo, nên ối người mê.

Mê thì mê, nhưng người ta vẫn gọi đúng tên của nó là xe bãi (rác)! Thơ hiện đại chủ nghĩa từ nước ngoài vào ta, không qua bộ lọc về văn hóa và tâm hồn thuần Việt Nam, của một vài thi sĩ hiện đại chủ nghĩa Việt Nam, có vẻ còn không hữu dụng bằng xe bãi. Bởi, nó không dùng được (theo nghĩa bạn đọc không tiếp nhận được nó).

Trên Tạp chí Nhà văn số 6 năm 2012, Inrasara nhận định: "Ít cảm và rất tối nghĩa, là đặc tính thơ hiện đại chủ nghĩa của một số nhà thơ Việt ta", và anh trích dẫn: "Ở cuối đêm/ em rũ tóc nói những lời mê sảng/ những ám hiệu/ của mặt biển đen/ không tình yêu tuyệt vọng/ anh xé tóc em cùng những cành lá chết/ mùa thu" (Thanh Tâm Tuyền);

"Hôm qua tôi ghé alfa/ Alfa không có nhà/ Ô gặp nhau rồi vẫn cứ li/ Một nắm bột khuya rắc vào bếp lạ/ / Đời gì/ Sao cứ đi/ những chiếc va li cứ vào Bến lạ" (Đặng Đình Hưng); "Tôi gặp tôi/ giữa mảnh vỡ và bê tông cảm xúc/ Kiêu hãnh trùng trùng mái chóp nhô, đôi mái lá lạc điệu/ Tên như một định mệnh cong vênh" (Lam Hạnh)"... Còn chúng tôi thì cho rằng, trên tiến trình văn chương Việt Nam, thơ hiện đại chủ nghĩa như vậy vẫn rụng lả tả bên con đường nhiều nhà thơ nước Việt ta đã đi qua. 

Có thể thấy khá rõ, ở nước ta chưa có truyền thống lập thuyết trong văn chương, ngay cả khi khai mở nền Văn chương Việt Nam hiện đại hết sức sôi động trong xu thế hòa nhập quốc tế hồi đầu thế kỷ XX, cũng vậy. "Tản Đà, là người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho Thơ Việt Nam hiện đại" (Xuân Diệu), đâu có lập thuyết gì.

Các nhà Thơ mới tài danh, hiểu rõ những chủ nghĩa Lãng mạn, Hiện thực, Tượng trưng, Siêu thực… nhưng, việc lập thuyết các chủ nghĩa đó, thì người ở quê hương các chủ nghĩa đó lo rồi. Bao tài danh của ta chỉ lo làm sao có thơ hay, hay hơn nữa, của người Việt ta, thế thôi.

Rồi bừng nở Thơ mới, lại có Thơ kinh dị, Thơ điên… Nhưng, "Thơ mới", là do đời sống văn chương gọi một phong trào, đâu có phải chủ nghĩa gì mà phải lập thuyết; Thơ kinh dị, Thơ điên cũng vậy, có người gọi theo cảm hứng, thấy hợp, thì người ta gọi theo, việc gì mà phải lập thuyết. Tiếp nữa, Thơ chống Pháp, Thơ chống Mỹ là thơ ca của một dân tộc đang dốc lòng dốc sức chống Pháp, chống Mỹ để giữ nước, là lý tưởng sống của một giai đoạn lịch sử, đâu có phải một chủ nghĩa mà lập thuyết…

Nói như thế không có nghĩa là bài bác sự "lập thuyết" cho văn chương Việt Nam đương đại, nhất là trong thời đại đổi mới và hội nhập sâu rộng, mạnh mẽ như ngày nay. Nếu có tài năng lớn xuất hiện, lập nên một thuyết thi ca của người Việt ta, sẽ là điều vô cùng đáng tự hào. Tuy nhiên, đó là việc trong tương lai.

Những năm qua, Thơ Việt Nam đương đại đã chuyển động bởi sự gắng gỏi của nhiều nhà thơ. Đầu thế kỷ XXI, nền thơ ta thực sự đã có một đội ngũ những thi sĩ dấn thân vào cuộc tìm kiếm cái mới cho ngôn ngữ thơ, là điều rất đáng trân trọng. Người quá giàu trí tưởng tượng dường như đã mong trong sự đổi mới của thơ Việt Nam đương đại, sẽ có thi sĩ dấn lên một bước, tới "thơ hậu hiện đại". Người nào cũng có quyền ước mơ. Người ôm mơ ước tìm tới được nàng thơ "hậu hiện đại" thì trước hết phải hình dung được nàng "hậu hiện đại" như thế nào đã, có khả ái không, có làm nên một cuộc cách mạng thơ vào một ngày nào đó?...

Như chúng tôi đã nhận xét, ở nước ta chưa có truyền thống lập thuyết trong văn chương. Không lập thuyết, nhưng tiền nhân sáng tạo rất nhiều thơ ca, và cũng suy ngẫm về thơ ca rất sâu xa. Đơn cử một trường hợp danh sĩ Nguyễn Siêu (1799 - 1872) đã nhận định tâm huyết, đại ý, thơ có hai loại, một loại đáng tôn thờ và một loại không đáng để thờ. Loại đáng tôn thờ là thơ vì con người mà viết; loại không đáng thờ là loại thi nhân viết ra chỉ để tán tụng nhau. Vậy đấy, mục đích văn chương mới thể hiện nhân bản, nhân văn. Chúng tôi nghĩ, cho đến nay, mục đích vì con người mà viết là một trong những truyền thống lớn nhất của văn chương Việt Nam ta!

Anh Chi

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).