Đời cát - phận người!

Nhiều nghiên cứu đã nói về màu sắc Phật giáo trong ca từ “Cát bụi” của Trịnh Công Sơn: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi/ để một mai vươn hình hài lớn dậy/ Ôi, cát bụi tuyệt vời/ mặt trời soi một kiếp rong chơi/ Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi/ để một mai tôi về làm cát bụi/ Ôi, cát bụi mệt nhoài/ tiếng động nào gõ nhịp không nguôi…”.

Phật giáo dùng khái niệm “vi trần kiếp” để nói về thời gian vô tận, kéo dài từ quá khứ đến vị lai được tính bằng số lượng hạt bụi. Con người cũng chỉ là những hạt bụi trong kiếp nhân sinh. Thân cát bụi lại trở về nơi cát bụi. Điều này tương đồng với quan niệm của đạo Công giáo. Kinh “Sáng thế” viết: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người”.

Như vậy “Cát bụi” của nhạc sĩ họ Trịnh hội tụ cả hai quan niệm, hai luồng ánh sáng triết lý về con người, phận người của cả Phật giáo và Công giáo. Như chính ông từng tâm sự: “Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận thì hữu hạn. Tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời”.

image001.jpg -0
Một họa phẩm tranh cát Việt.

Không chỉ chinh phục bằng cái vỏ hình thức lời hát nhẹ nhàng, tha thiết, thêm một chút băn khoăn, được đẩy lên tới sự day dứt, nôn nao, khắc khoải; nhạc phẩm còn thuyết phục bằng cái lõi bên trong là quan niệm mang tính phổ quát về kiếp phận nhân sinh.

Ảnh hưởng từ cả Phật giáo và Công giáo, nhưng có lẽ chủ yếu từ những hình ảnh đời sống thực của vùng bờ biển miền Trung đầy nắng, gió và cát, trong bài thơ “Mẹ Tơm” Tố Hữu đã kiến tạo những đối lập giữa cái sống và cái chết, hôm qua và hôm nay, cái hiện hữu và cái vô hình, giữa cái phàm trần, vô thường (cát) và cái quý giá, cao cả (ngọc).

Với giọng điệu da diết, sâu lắng, nhà thơ nâng hình tượng người mẹ lên một tầm cao sử thi kỳ vĩ, tỏa sáng, bất tử, thiêng liêng vô cùng: “Ôi bóng người xưa, đã khuất rồi/ Tròn đôi nấm đất trắng chân đôi/ Sống trong cát, chết vùi trong cát/ Những trái tim như ngọc sáng ngời”. Nghệ thuật là vậy, phải có tư tưởng để chuyển hóa thành máu thịt tác phẩm. Mà tư tưởng luôn là quá trình lâu dài, từ thấu hiểu (nhận thức) sâu sắc văn hóa và đời sống đến trao gửi niềm thấu cảm (tình cảm) vào hình tượng rồi truyền cảm (tác động nghệ thuật) để cùng đồng cảm (tri âm, lan tỏa) tới đối tượng tiếp nhận. Ngoài hai nhạc sĩ, thi sĩ lớn ấy, mấy ai được vậy?

Vì mang cảm hứng lớn lao nên những “hạt bụi người” ấy còn bay vào, đọng lại ở nhiều kiệt tác. “Cát bụi chân ai” (1992) của Tô Hoài là những câu chuyện của văn nghệ sĩ trước thời kháng chiến. Cũng là một sự kiến tạo đối lập giữa thời kháng chiến gian khổ (chiến tranh có bao giờ sung sướng vui vẻ đâu) mà vẫn rờ rỡ vẻ hào hoa các văn nhân, thi sĩ. Nhất là vẻ đẹp về tình bạn bằng hữu, lối ứng xử, những tính cách riêng khác lạ trong sinh hoạt, cả trong tình cảm… Thì ra, là cát bụi, nhưng là “cát bụi tuyệt vời”.

Nhà thơ lớn Xuân Diệu từng hãnh diện “Biển” (1962) là một trong những bài thơ hay nhất của mình: “Anh không xứng là biển xanh/ Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng/ Bờ cát dài phẳng lặng/ Soi ánh nắng pha lê.../ Bờ đẹp đẽ cát vàng/ Thoai thoải hàng thông đứng/ Như lặng lẽ mơ màng/ Suốt ngàn năm bên sóng...”. Mượn cặp phạm trù không tách rời biển xanh/bờ cát để nói về thuộc tính của tình yêu, nhà thơ ca ngợi bờ cát/em với những đặc tính: trắng/trong trắng, sáng ngời; phẳng lặng/bình yên, êm đềm; suốt ngàn năm bên sóng/chung thủy…

“Trường ca Biển” của Hữu Thỉnh được viết từ 1981, in lần đầu 1994, chương 2 nói về “Cát”: “Cát và cát/ Ngày ngày lại mới/ Cát và cát/ Ngày ngày lại trắng/ Trắng như bàn tay trắng chúng tôi…/ Chúng tôi nghe cát nói…/ Cát ở đây là lối đi/ Cát là chỗ ăn cơm chiêu ngụm nước/ Cát là giường nằm gối đầu lên cát/ Cát theo lá thư đồng đội gửi về”.

Ngoài đảo xa, với người lính, cát là bạn, là quê hương, là nhà, là giường nằm, là tiếng lòng đồng đội. Ai từng là lính đảo Trường Sa càng thấy những câu ấy rất thật, như là viết về mình, cho mình. Trong hoàn cảnh ấy, bối cảnh ấy, chỉ nói thật mới có thể chạm đến nghệ thuật cao nhất của thơ: nghệ thuật của trái tim. Mà trái tim luôn muốn nói điều chân thật!

Trong tập “Người đàn bà ngồi đan” (1985), nhà thơ Ý Nhi có “Cát” với những câu thật ấn tượng: “Những người còn sống khi đặt chân lên cát/ Tưởng như mình chạm tới thịt xương/ Cát ròng ròng tuôn chảy dưới lòng chân/ Cát như máu hai mươi năm đã đổ/ Trong cát ấy có mẹ cha của bao nhiêu trẻ nhỏ/ Có chồng con của bao người góa bụa/ Những bạn bè, đồng chí đã hy sinh/ Người ta đứng trang nghiêm trước cát bạt ngàn”. Cát ở đây gần như được đồng nhất với con người. Cát cũng là thịt xương, là máu, là mẹ cha, chồng con, bạn bè, đồng chí. Cát thiêng liêng, bất tử. Cát vĩ đại, lớn lao: “Người ta đứng trang nghiêm trước cát bạt ngàn”.

Phim “Đời cát” (2000) của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân thành công, nhờ bởi tính luận đề nhân văn muôn thuở: bất luận trong hoàn cảnh nào con người vẫn không nguôi khát vọng vươn tới hạnh phúc. Lấy bối cảnh một làng chài (miền Trung) gắn liền với cát bỏng. Các tình huống oái oăm, trớ trêu; những thân phận thiệt thòi, thiếu khuyết do chiến tranh, không làm giảm đi, trái lại càng thôi thúc những con người (là các nhân vật Cảnh, Thoa, Tâm, Huy, Hoa...) đi tìm ý nghĩa cuộc đời. Họ không chịu sống phận cát. Như những cây mọc trên cát cỗi cằn nhưng nở hoa tình yêu cuộc sống, ngát thơm hy vọng. Mạnh mẽ, mãnh liệt, đầy lạc quan.

Là vật liệu dạng hạt, hạt đá và khoáng vật nhỏ, mịn; có nguồn gốc tự nhiên, hạt cát là một thuật ngữ trong địa chất học, không thể thiếu trong xây dựng (nhà cửa, công trình, đường sá, cầu cống…). Do sự thay đổi nhiệt độ đột ngột ngày và đêm gây áp lực lên các kiến trúc đá làm chúng vỡ ra, nhỏ lại, kết hợp với sự phong hóa của gió mà hình thành các sa mạc (“sa” = cát; “mạc” = vùng hoang vắng) nổi tiếng thế giới. Cũng vì thế cát sa mạc mịn, nhẵn, bề mặt không đủ độ liên kết nên khó đáp ứng yêu cầu làm vật liệu xây dựng.

image003.jpg -1
Sa mạc Gobi (Trung Á).

Tưởng chỉ là những thứ vật liệu khô khan, ít giá trị, nhưng ngày nay cát đi vào nghệ thuật với tên gọi Tranh cát gây chú ý. Xuất hiện ở Việt Nam mới hơn 20 năm, nhưng với thế giới thì đã thành một lịch sử lâu dài. Có tên gọi Drypaiting, ban đầu tranh cát được thổ dân Úc, Nam Mỹ dùng vào việc phục vụ các nghi thức tôn giáo, tế lễ, thậm chí chữa bệnh.

Theo nhiều ghi chép, thổ dân bộ tộc Navajo (Nam Mỹ) cho người bệnh ngồi vào các tấm da, tấm vải, hoặc chỉ là mảnh đất trống có rắc cát thành các hình mang tính ma thuật. Các pháp sư/thầy lang sẽ niệm chú, tụng kinh xin các đấng thần linh ban phép thuật để bức tranh hút ra mọi bệnh tật. Sau đó bức tranh được tiêu hủy, vì đã chứa độc. Như một vài nghệ thuật có nguồn gốc tôn giáo, dần dần, tranh cát trở thành một bộ môn nghệ thuật lan ra cả thế giới. Ở đâu có cát, ở đó có tranh cát, tượng cát…

Tranh cát Tây Tạng được gọi là Mạn đà la thường sáng tạo theo chủ đề Phật giáo nhằm xiển dương những triết lý thiêng hoặc tuyên truyền Phật pháp. Người Nhật sớm kết hợp cát với các nguyên liệu phụ khác để vẽ nhiều bức tranh thiên nhiên đẹp, tinh tế, kỳ công rất được ưa chuộng. Nhiều ý kiến thống nhất cho rằng, cách nay chỉ khoảng mươi năm, từ khi trong chương trình Ukraine Gots Talent được đưa lên mạng xã hội video Youtube, nghệ nhân Kseniya Simonova trình diễn những bức tranh cát đẹp mê hồn, chinh phục hàng triệu người xem.

Tranh cát nghệ thuật (động) vẽ trên mặt kính được chiếu ánh sáng ngược từ dưới lên. Dựa vào cốt truyện nào đó (cổ tích, truyền thuyết hoặc từ đời sống) nghệ sĩ điều chuyển nhanh nhạy, biến ảo, liên tục để những hạt cát tạo thành chuỗi hình ảnh thuyết minh cho câu chuyện. Được trợ giúp bởi âm thanh, ánh sáng…, những câu chuyện được kể có hồn hơn, sinh động hơn…

Tranh cát Việt Nam có từ năm 1997 với 4 thể loại: phong cảnh, người lao động, chân dung, thư pháp. Theo họa sĩ Ý Lan - nghệ nhân nổi tiếng trong làng tranh cát Việt, có 4 loại cát để “vẽ” là cát biển, cát sông, cát suối, cát núi. Họa sĩ đã tìm ra hơn 80 màu cát tự nhiên để làm tranh. Vẫn theo họa sĩ, tranh cát sẽ còn phát triển bởi ngày càng được yêu thích, có nhiều bạn trẻ đam mê theo đuổi bộ môn nghệ thuật mới mẻ này.

Xin mượn hai câu thơ hay của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý khép lại bài viết nhỏ: “Cát đi mãi chẳng thành đường/ Con đi theo lối mẹ thường hát ru”. Bãi cát đời người mênh mông, muốn đi được xa, phải có hành trang quý giá nhất là tấm lòng mẹ!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).