Độc đáo trang phục người Dao đỏ ở Bắc Kạn

Trong vô số giá trị văn hóa truyền thống đó thì loại hình di sản của đồng bào dân tộc Dao đỏ còn được trao truyền đến hôm nay phải kể đến trang phục truyền thống. Nó là kết quả của sự lao động, sáng tạo và ứng xử với môi trường tự nhiên, không gian sinh tồn.

Bắc Kạn, một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, là nơi sinh sống của nhiều cộng đồng dân tộc, như Tày, Nùng, Dao, Mông, Kinh, Hoa và Sán Chỉ. Trong số đó, người Dao có dân số đứng thứ hai toàn tỉnh. Hiện tại thôn Bản Cuôn, xã Ngọc Phái, huyện Chợ Đồn là một nơi có đông cộng đồng người Dao đỏ sinh sống của tỉnh Bắc Kạn. Nơi đây đồng bào còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống.

image003.jpg -0
Lễ phục truyền thống (trái) và trang phục ngày thường của phụ nữ Dao đỏ.

Trong vô số giá trị văn hóa truyền thống đó thì loại hình di sản của đồng bào dân tộc Dao đỏ còn được trao truyền đến hôm nay phải kể đến trang phục truyền thống. Nó là kết quả của sự lao động, sáng tạo và ứng xử với môi trường tự nhiên, không gian sinh tồn. Vượt lên trên cả, ở đó chứa đựng biết bao giá trị từ triết lý sống đến nghệ thuật thị giác bởi sự kết hợp hài hòa về màu sắc, đường nét hoa văn trang trí cũng như hình dáng trang phục. Nó không đơn thuần là sản phẩm vật chất mà còn thể hiện giá trị thẩm mỹ, cá tính, bản sắc văn hóa.

Không chỉ là trang phục

Trang phục cổ truyền của người Dao đỏ được đánh giá là một trong những loại trang phục có hoa văn phong phú, đa dạng, độc đáo trong các dân tộc ở Việt Nam. Với những gam màu cơ bản như đỏ, chàm, xanh, vàng và trắng cùng các chất liệu từ vải đến phụ kiện trang sức bằng bạc. Nghệ thuật trang trí hoa văn trên trang phục của người Dao đỏ là một kho tàng nghệ thuật dân gian đặc sắc, thể hiện cá tính của tộc người. Hoa văn trang trí hiện diện trên khăn, mũ, áo, yếm, quần, dây lưng không đơn thuần là các chi tiết tạo điểm nhấn mà còn phản ánh sự khác biệt về giới tính, lứa tuổi, thậm chí trong các hoạt động tín ngưỡng hay sinh hoạt cộng đồng.

Trong đời sống văn hóa thường nhật của người Dao đỏ, thêu thùa hay khâu vá là công việc gắn liền với người phụ nữ những lúc nông nhàn. Các cô gái thường được học thêu từ năm 10-12 tuổi, đến 14 tuổi có thể tự tay thêu trang phục của mình. Sự khác biệt lớn nhất của đồng bào Dao đỏ vùng Chợ Đồn với các tộc người khác là không biết dệt vải. Toàn bộ nguyên liệu làm trang phục đều mua từ cộng đồng khác như Tày, Nùng, Sán Chỉ, Hoa.

Để làm được một bộ trang phục cô dâu nhanh nhất cũng phải 12 tháng. Nó đặc biệt ở chỗ các chi tiết hoa văn rất tinh xảo, phụ kiện đi kèm như khăn, mũ đội đầu được thêu cầu kỳ. Trong kỹ thuật thêu của người Dao đỏ khác lạ ở điểm thêu không cần khung nên thêu ở bất kỳ đâu và thêu mặt trái. Tức là thêu ở mặt trái nhưng các họa tiết hoa văn lại nổi lên trên mặt phải. Màu sắc trên trang phục của phụ nữ Dao đỏ gồm 5 màu là đỏ chủ đạo, xanh, vàng, trắng, chàm điểm xuyết.

Các nghệ nhân Triệu Thị Lai, Đặng Thị Ngoạt, Triệu Thị Tiên, Hoàng Thị Liều cho biết quan niệm dân gian về màu sắc như sau:

Màu đỏ biểu hiện sự hạnh phúc, ấm no, tươi vui, may mắn; là màu chủ đạo tạo điểm nhấn của trang phục. Màu trắng được kết hợp khéo léo với màu đỏ trong các họa tiết hình tam giác ngược xuôi hay ngang, dọc. Sự phối hợp này làm cho màu trắng ở bất cứ vị trí nào đều giúp các màu khác nổi bật. Màu vàng tượng trưng cho sự đầm ấm. Màu xanh là màu của môi trường tự nhiên. Màu chàm là màu làm nền, giữ vai trò chính, chiếm tỷ lệ cao nhất trong trang phục truyền thống của người Dao đỏ.

Sự khéo léo của nghệ nhân dân gian khi lấy màu chàm làm nền kết hợp cùng sắc đỏ, xanh, vàng, trắng tạo một hiệu ứng tích cực trong nghệ thuật thị giác. Nhìn tổng thể các họa tiết hoa văn dù nhỏ nhưng vẫn nổi bật trên nền chàm mà không chói hoặc mờ. Đây có lẽ là sự tinh tế nhất trong nghệ thuật phối màu của đồng bào Dao đỏ.

Trang phục của phụ nữ Dao đỏ gồm hai loại: thường phục và lễ phục. Thường phục có phần đơn giản, không có 2 hàng quả bông đỏ phía trước vạt áo. Áo thường ngày cũng làm từ vải chàm hoặc đen, không khoét nách, chiết eo hay thêu hoa văn, chỉ có viền xanh ở ngực và tay áo. Quần thường phục cũng làm bằng vải đen, không trang trí hoa văn và dùng dây rút ở cạp. Dây lưng thường phục dệt từ vải chàm, quấn vòng quanh bụng, ít hoặc không có hoa văn.

Lễ phục là loại trang phục được sử dụng khi tham gia các sự kiện quan trọng như các dịp lễ của cộng đồng, tết hoặc du xuân trẩy hội; được trang trí công phu, cầu kỳ hơn. Áo dài lễ phục làm từ vải chàm, nổi bật với phần trang trí những quả bông đỏ rực rỡ hoặc đỏ xen lẫn xanh, vàng nổi bật dọc theo cổ áo và các họa tiết thêu cầu kỳ dọc nẹp áo, gấu áo, cửa tay áo.

Các họa tiết gồm hình cây cỏ, quả trám, sóng nước, đầu Tam Thanh, ngôi sao và nhiều băng hoa văn chạy viền. Các đường thêu ở cửa tay và gấu áo thường mang hình sóng nước tạo cảm giác uyển chuyển hài hòa. Sự khác biệt ở chỗ áo lễ phục thường lót thêm lớp vải xanh bên trong, tạo độ dày và vẻ sang trọng.

Trang phục nam cũng chia thành 2 loại thường phục và lễ phục. Các họa tiết ít hơn rất nhiều so với trang phục của nữ, màu chàm là màu chủ đạo. Trang phục của chú rể có thêm khăn quấn đội đầu, ở đó thêu hoa văn sắc màu, mũ của thầy cúng người Dao đỏ cũng có sự khác biệt so với mũ của thầy cúng các dân tộc khác.

image007.jpg -1
Trang phục của thầy cúng người Dao đỏ.

Thầy cúng có vị trí nhất định trong cộng đồng, vì vậy trang phục của thầy cúng cũng là loại đặc biệt và chỉ sử dụng trong các nghi lễ quan trọng của cộng đồng. Ông Triệu Xuân Minh - người giữ vai trò thầy cúng trong cộng đồng chia sẻ: “Khi thực hành nghi lễ, thầy cúng phải mặc bộ trang phục riêng với màu đỏ làm chủ đạo kết hợp mũ”.

Áo khoác không ống tay, làm từ vải đỏ hoặc vải hoa đỏ, được trang trí cầu kỳ kết hợp cùng những dải vải đỏ chạy dọc cổ áo, nẹp ngực, gấu áo và hai bên thân áo. Hoa văn tập trung ở cổ áo, gấu áo và vạt áo trước, sau, đó là hình sao tám cánh, cây cỏ, chong chóng, hoa vuông, hình người, ngựa, hồ lô, cá, rồng và hoa thông. Mặt sau áo trang trí biểu tượng ấn Bàn Vương và 28 vì tinh tú, thể hiện giá trị ý nghĩa tâm linh đặc biệt.

Với trẻ em Dao đỏ, trang phục gần giống của người lớn nhưng đơn giản và ít hoa văn hơn. Đặc biệt, mũ và áo là hai thành tố chính thể hiện nét đẹp trang phục trẻ em. Mũ trẻ em nam và nữ có kiểu dáng giống nhau, được tạo từ tám mảnh vải tam giác cân ghép thành hình chóp. Bốn mảnh vải đỏ không thêu hoa văn xen kẽ với bốn mảnh vải màu chàm thêu hoa văn cây tam thanh trắng đỏ.

Mũ trẻ em nam còn được đính bốn quả lục lạc bạc phía trước. Mũ trẻ em nữ thêu nhiều hoa văn hơn, chủ yếu là cây cỏ, hoa, cây thông với màu xanh, vàng, trắng. Đỉnh mũ đính một quả bông cùng tám tua len rủ xuống, và vành mũ phía trước trang trí bằng hoa bạc gồm 11 bông. Hoa bạc là đặc trưng riêng của mũ trẻ em nữ. Quai mũ làm từ chuỗi hạt cườm màu sắc rực rỡ, tạo thêm điểm nhấn sinh động cho mũ.

Tâm hồn cộng đồng trên từng nét hoa văn

Nhìn từ trang phục truyền thống cho thấy nghệ thuật trang trí hoa văn trên trang phục Dao đỏ không chỉ đa dạng về kiểu dáng và màu sắc mà còn thể hiện tính thẩm mỹ và tâm hồn cộng đồng. Các họa tiết cây cỏ, động vật và biểu tượng truyền thống được bố trí hài hòa, sử dụng kỹ thuật thêu, ghép vải, và kết hợp kim loại bạc để tạo nên trang phục giàu giá trị văn hóa và nghệ thuật.

Với các giá trị độc đáo, năm 2018, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa nghệ thuật trang trí hoa văn trên trang phục của người Dao đỏ vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị độc đáo này.

Ông Trần Quốc Hiệu, Chủ tịch UBND xã Ngọc Phái, huyện Chợ Đồn cho biết: “Lãnh đạo địa phương luôn quan tâm đến công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc trên địa bàn nói chung, đồng bào Dao đỏ nói riêng. Hiện nay nghệ thuật thêu hoa văn trên trang phục người Dao đỏ đã được công nhận là một di sản văn hóa. Chính quyền vui mừng khi thấy bà con dân tộc Dao có ý thức luôn luôn nhắc nhau phải lưu truyền lại những bộ trang của đồng bào mình. Đặc biệt, trong các dịp lễ hội thì họ đều sử dụng bộ trang phục truyền thống đó để đi chơi hội và những cô gái luôn tự làm cho mình một bộ trang phục để mặc trong lễ cưới của mình”.

Nói đến vấn đề bảo tồn nghề thêu hoa văn trên trang phục truyền thống, bà Triệu Thị Sỉnh người dân trong Bản Cuôn khẳng định, hiện nay tại Bản Cuôn nói riêng và Bắc Kạn nói chung, nghệ thuật trang trí hoa văn trên trang phục của người Dao đỏ vẫn hàng ngày được duy trì và khuyến khích trong các hoạt động văn hóa và du lịch tại địa phương.

Nguyễn Tiến Lộc

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).