Đỗ Thu Hằng và dư âm từ những trang thơ

Nữ nhà thơ Đỗ Thu Hằng sinh năm Kỷ Mùi, 1979, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, hiện chị đang là giáo viên dạy văn ở Thủ đô. Thơ Đỗ Thu Hằng, mang phong cách của một tư duy thơ hiện đại, lấy sự giải tỏa, quán chiếu từ cuộc sống làm tư tưởng cho những trang thơ của mình!

1.

Trong cõi thơ vài mươi năm trở lại đây, thơ Việt Nam trở nên đa chiều, đa dạng và tràn ngập bởi sự hội nhập cùng những biến đổi, những nhu cầu từ nhiều nguồn, nhiều phía! Trong bể thơ mênh mông ấy, để tìm được những gương mặt thơ, nhất là thơ nữ đã và đang tạo được những nét riêng cho tư tưởng và ngôn ngữ thơ trong sáng tạo nghệ thuật, thì chẳng bao giờ thuộc số nhiều!

Nữ nhà thơ Đỗ Thu Hằng sinh năm Kỷ Mùi, 1979, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, hiện chị đang là giáo viên dạy văn ở Thủ đô. Thơ Đỗ Thu Hằng, mang phong cách của một tư duy thơ hiện đại, lấy sự giải tỏa, quán chiếu từ cuộc sống làm tư tưởng cho những trang thơ của mình!

do thu hang - copy.jpg -1
Nữ nhà thơ Đỗ Thu Hằng.

Bài viết này, tiếp cận và tương tác cùng những trang thơ giải tỏa và quán chiếu ấy của nữ sĩ Đỗ Thu Hằng qua bộ ba tác phẩm đã xuất bản của chị, đó là: “Trên cành hoa có nỗi buồn đang phai”, NXB Lao động, 2018; “Tái sinh”, NXB Lao Động, 2020 và gần đây là “Vách đêm”, NXB Hội Nhà văn, 2024.

2.

Tôi đọc thơ Đỗ Thu Hằng ở những quán văn chương, ở những hội nhóm văn học trên cõi mạng từ mươi năm về trước, đã gặp trong thơ ấy nét lãng đãng sơ khai từ phía ngộ năng, giờ gặp lại ở đây, thấy cái nét ngộ năng ấy đã hội tụ khá đậm nét trong lối viết của một nhà thơ nữ:

“Muốn vùi trong gió nằm yên/ Nghe câu kinh vọng từ miền thiên thu/ Nghe vườn khuya mọc cỏ mù/ Tiếng xanh tưới mát những âm u đời”.

(Cuối trời vài cánh chim sa).       

Cách đây gần mười năm, nhà thơ Dương Kỳ Anh đã viết về thơ Đỗ Thu Hằng, có đoạn:

Ngày rụng vào hun hút/ Mùa trôi theo lá bay/ Tuổi buồn hơn một chút/ Khóc cười tựa bóng mây (Dư âm). Những câu thơ như thế cứ cuốn hút tôi. Tôi đâu ngờ một cô gái trẻ như Đỗ Thu Hằng lại viết ra những câu thơ ẩn chứa nhiều minh triết, nhiều dư âm, như một người thơ từng trải, như những thi sĩ trên đầu hai thứ tóc” (Trích lời bạt tập thơ “Trên cành hoa có nỗi buồn đang phai”, NXB Lao Động, 2018).

Nữ sĩ họ Đỗ làm thơ, trước hết là làm cho chính mình, lấy thơ để giải thoát những nỗi niềm trong tâm hồn của một nữ thi nhân, đang gánh những mùa người trên đôi vai bé nhỏ:

Bao nhiêu năm, ừ, một ngày ngoảnh lại/ Không ngờ ta mụ đồng nát vui buồn/ Ngổn ngang ngắm một kho tàng kỷ niệm/ Phong thư đau sao chẳng nỡ tro tàn (Góc hồn giờ còn lại đóa phôi phai).

Đỗ Thu Hằng phải minh định lắm, dũng cảm lắm, mới dám định danh cho những vui buồn trong ký ức kia là một mớ đồng nát!

Thơ, hay bất cứ thể loại văn học nghệ thuật nào, dù đổi mới, dù ảo diệu đến đâu, cũng đều phải lấy con người và những nỗi niềm người làm trung tâm, làm đối tượng, để mà tương tác và chia sẻ.

Buổi sáng mỏng tựa cánh chuồn/ Trên cành hoa có nỗi buồn đang phai/ Gió hiền như sợi tóc mai/ Mơn man thổi những ngày dài thành mây” (Trên cành hoa có nỗi buồn đang phai).

Tinh tế lắm, câu thơ “Trên cành hoa có nỗi buồn đang phai” rất độc đáo, nó đa chiều, thức gợi và đầy chiêm nghiệm. Hoa nở, là lúc cành hoa ấy dâng hiến mạnh mẽ nhất, là lúc những thanh khiết nhất, những khao khát nhất được lan tỏa vào vũ trụ, là lúc một mùa quả đang đợi để sinh thành! Bởi vậy nỗi buồn làm sao còn căn cốt để tồn tại trong sự dâng nở đơn giản mà đầy linh thức của nhành hoa kia!

Ở tập thơ “Tái sinh” và “Vách đêm” của Đỗ Thu Hằng, vẫn thấy hiển hiện tâm thức và tư duy sáng tạo ấy, vẫn thấy cái tư tưởng thơ nhất quán và liền lạc của chị làm chủ những cung bậc câu chữ ấy.

Lấy một tiếng thở dài làm ba-ri-e/ Ghìm nỗi nhớ xăm xăm đi lạc/ Vọng từ một chiều mưa lãng mạn/ Những rung ngân, im lặng khóa rồi/ Lấy hững hờ làm ba-ri-e/ Vài kỷ niệm chẳng cần đặt tên nữa/ Có nghĩa gì khi người ta không muốn đọng/ Thôi tình cũng chỉ lá khoai!” (Quên rồi).

Cái “lá khoai” trong câu thơ của nữ sĩ họ Đỗ trên đây, nó không đơn thuần chỉ là một cách nói, mà nó còn được dẫn gợi từ thực tế, từ ý của một câu thành ngữ Việt: “Nước đổ lá khoai”. Đó là một sự sáng tạo rất Việt Nam trong thơ Việt đương đại.

Những nhãn tự mang tính chất kế thừa và tiếp nối như thế xuất hiện khá nhiều trong thơ Đỗ Thu Hằng, nó làm nên sự hàm ngôn cho câu thơ, nó nâng ý thơ lên những tầng thức mới bằng sự giải tỏa của trí tuệ, của sự ngộ giải.

Con thuyền nhỏ đã rời xa bến cũ/ Chân trời mơ đã khép mộng bao giờ/ Bàn tay ấm ủ niềm vui bé mọn/ Xin an nhiên trong bếp lửa chiều tà” (Phai).

Mỗi nhà thơ là một thế giới tâm thức biệt lập, tức là ở trong ấy, tư duy và góc nhìn của mỗi tác giả sẽ tạo ra một hệ thống ngôn ngữ thơ khác nhau.

Niềm vui chỉ tạm trú thôi/ Nỗi buồn chính chủ, hẳn rồi, ai hay/ Tin không hộ khẩu đây này/ Trong vầng mây tím giữa ngày thu phai” (Giật mình tiếng gió thở dài)

Phật dạy: “Đời là bể khổ”! Từ góc nhìn của chính mình, Đỗ Thu Hằng đã khai phóng cái “khổ” ấy bằng cách thi ca hóa những nỗi niềm người ấy, nâng chúng lên những tầng thức mới của tư duy, để từ vị trí ấy, chúng ru đỡ những nỗi người, mà trước hết là giải tỏa và ru đỡ chính mình qua những chênh chao giữa bể phù sinh này!

3.

Ở phần trước, chúng tôi tiếp cận và tương tác với thơ Đỗ Thu Hằng qua hai tập thơ “Trên cành hoa có nỗi buồn đang phai” và “Tái sinh” của chị đã xuất bản trước đây. Theo mạch chữ ấy, tư duy thơ ấy, chúng tôi tiếp tục khai thác những nét mới trong ngôn ngữ thơ, cùng sự nhất quán trong tư tưởng thơ của Đỗ Thu Hằng qua tập thơ “Vách đêm”- Ấn phẩm thơ mới nhất của chị!

anh tho hang ok.jpg -0
Một số tác phẩm của nhà thơ Đỗ Thu Hằng.

“Vách đêm” là tập thơ được tập hợp từ những sáng tác của chị trong vài năm trở lại đây! Đối với văn học nghệ thuật, thời điểm sáng tác của tác phẩm đôi khi rất quan trọng, bởi cảm xúc của văn nghệ sĩ thường bị tác động rất mạnh từ cuộc sống và thời thế! Đặc biệt là các nhà thơ, tâm hồn họ vốn mẫn cảm với những biến động từ thời thế và cuộc sống, cho nên, trong những sáng tác của họ chắc chắn luôn có những nổi chìm từ thế cuộc mà họ đang sống ánh xạ vào bóng chữ!

Đời đâu thiếu những vương triều sụp đổ/ Quán trọ trăm năm mỏi mệt cũ nhàu/ Con chèo bẻo biết tu mình thinh lặng/ Xin nỗi buồn thôi nhé thoát thai nhau” (Phù du một khúc).

Đọc thơ Đỗ Thu Hằng, không khó để nhận ra những biến động của thế thời, những dịch chuyển liên tục từ cuộc sống quẫy động trong thơ của chị. Chị lấy góc riêng của mình mà quán chiếu nên cả sự tương phản, sự phân cực của hai thế hệ mẹ - con trong thời đại hôm nay:

Con toàn nghe Zen Z/ Mẹ cố mãi mới nghe được Đen Vâu/…/…/ Con không đọc thơ/ Mẹ chìm trong câu chữ/ Truyện nghìn trang không đứa nào dòm ngó/ Mẹ một mình trong cõi sách mênh mông!” (Hai thế hệ).

Tư tưởng thơ, tư duy sáng tác, sẽ định hướng cho câu chữ, cho góc nhìn của mỗi nhà thơ. Người làm thơ càng đốn ngộ ở tầng thức cao, thì càng ngôn ngữ thơ càng lay thức khi tiếp cận người đọc.

Người với người tự rụng rơi/ Chìm trong bể nhạt hết vơi lại đầy/ Cuối cùng sẽ cập bến mây/ Xem hư vô nở trên tay màu gì” (Không đề).

Thơ hay cốt ở tư tưởng, ở góc nhìn và cách nhìn của tác giả trước những vấn đề của con người trong thời đại của họ. Thơ Đỗ Thu Hằng cũng được minh định bởi điều này ở thời điểm hiện tại.

Anh là Em hay Em là Anh?/ Giữa ánh trăng trong veo một nỗi nhớ gọi mời/ Giữa ánh trăng treo một nỗi nhớ diệu vợi/ Nhiều khi Em nhớ Anh hay là nhớ tâm hồn của chính mình?” (Ánh trăng treo một nỗi nhớ diệu vợi).

Tìm hiểu về thơ của nữ sĩ Đỗ Thu Hằng, qua các tập thơ chị đã xuất bản, nhất là ở tập thơ “Vách đêm”, nhận thấy chị đã định hình rõ nét một tư duy thơ hiện đại. Mời đọc mấy đoạn thơ như thế được tách ra từ “Vách đêm”:

Đời ngắn lắm, con người đâu phải chủ nhân/ Của thiên nhiên của mạch nguồn sự sống/ Nên mấy mươi năm ở đời khách trọ/ Biết ơn nhiều không khí, nước và hoa!” (Ta là khách của trần gian tráng lệ).

“Sắp xếp lại từng ngày/ Nghe tiếng chuông giác ngộ/ Thương lượng với chính mình để hạnh phúc hồi sinh” (Thương lượng).

4.

Tiếp cận và tìm hiểu các tác phẩm của Đỗ Thu Hằng xuất bản trong suốt mười năm qua, nhận thấy sự nhất quán trong suốt quá trình sáng tạo thi ca của nữ nhà thơ này! Nguồn mạch thơ, tư duy thơ của Đỗ Thu Hằng từ những bài thơ ở tập thơ đầu tiên cho tới những sáng tác hôm nay, luôn được nâng cấp liên tục bằng những tìm tòi, những kiến giải bởi một hệ tư duy sâu sắc và nhất quán! Những trang thơ của Đỗ Thu Hằng là kết quả từ một quá trình lao động nghệ thuật cần mẫn và nghiêm túc. Từ nguồn mạch thơ ca và tư duy thơ ấy, con đường thơ của chị sẽ còn hứa hẹn những thành công!

Hà Nội, tháng 8/2024

Nguyễn Thế Kiên

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).