Dở, hay điển cố!

Điển cố cũng là “cổ mẫu” chỉ những biểu tượng, câu chuyện xa xưa nhưng được đặt trong văn cảnh mới để vẫn có thể “đẻ” ra ý nghĩa mới (tiếng Pháp gọi là “archétype” được ghép từ âm tiết “arche”: khởi đầu, cơ sở... và “type”: hình ảnh, mô hình...). Đặc trưng của điển cố là tính liên tưởng, như cây cầu “liên văn hóa” chuyên chở ý nghĩa nguyên thủy từ miền xa xưa về thời hiện tại.

Các chữ “bình chú”, “giảng văn” trong văn học trung đại gắn liền với hệ thống điển cố. “Truyện Kiều” có hẳn một “từ điển” là như vậy. Đi vào khu rừng bạt ngàn điển cổ của văn học trung đại, thấy cảnh đẹp thì dễ chịu, thú vị. Nhưng đi lạc thì mất phương hướng, bối rối... Xin tìm hiểu sự hay dở của nó qua trường hợp thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585).

untitled-1.jpg -1
Tượng danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Là nhà Nho uyên bác, tinh thông Dịch lý, sâu sắc cảnh đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng điển cố như một “liên văn bản”, “lấy xưa nói nay” sâu sắc, thâm thúy. Trong bài thơ mừng bạn (Trần Lâm) nhận chức mới (tri huyện Vĩnh Lại), có câu: “Độc thanh hề hạ cưỡng huyền ngư” (Riêng mình thanh bạch, gượng treo cá trước cửa - Vĩnh Lại huyện tri huyện Trần Lâm).

Điển cố “huyền ngư” (treo cá) kể Dương Tục làm quan Thái thú ở Lô giang được lính hầu soạn cỗ có cơm thơm cá ngon. Ông nhận nhưng không ăn mà treo lên trước cửa phòng. Hôm sau người hầu vẫn làm tiếp như thế, ông lại đưa lại như cũ. Người hầu thẹn, từ đó không dám làm cỗ ngon nữa. Điển này về sau chỉ tính thanh liêm của quan lại. Đấy là Trạng Trình nhắc bạn nhớ điển “huyền ngư” mà cố học tập, tu dưỡng theo tấm gương trong sáng của đời trước... Thơ như thế ngắn gọn, nói ít hiểu nhiều.

Hình tượng âm thanh “tiếng gà” từ các “cổ mẫu” vọng về trong văn bản “Quán kê thi” (Bài thơ về gà trống) của Trạng Trình: “Ngũ đức hữu chí tình/ Tam hào phi ác thanh/ Tư tư khuyến vi thiện/ Thời hướng hiểu song minh” (Năm đức đều trọn vẹn/ Ba lần gáy hết lòng/ Khẩn khoản khuyên điều tốt/ Tiếng gọi đón mai hồng). Bài thơ là một “liên văn bản” hội tụ từ nhiều luồng văn hóa. Phật giáo quan niệm “gà” mang phẩm chất tốt lành, hướng thiện ở mọi nơi chốn, thời gian nên thường dùng từ “kim kê” (gà vàng) để nói về tính thanh tịnh, trong sáng của chúng sinh.

Trong nghệ thuật tạo hình, “mặt gà” là một nguyên tắc (không phổ biến) để hình dung khuôn mặt của Bồ Tát. Trong Nho giáo, hai chữ “đại kê” (gà trống) gần âm với “đại cát” (tốt lành nhất). “Đại cát” lại là một quẻ bói chỉ mức tốt đẹp cho công việc hoặc tương lai của con người… Nho gia lấy “gà trống” biểu trưng cho “ngũ đức” (5 đức tính) của người quân tử: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín thể hiện ở: bảo vệ, nhường mồi cho gà mái, gà con; khôn ngoan, mưu mẹo khi gặp đối thủ; gáy báo sáng đúng giờ, đập cánh gáy ba lần (tam hào) thì trời sáng.

Rất có thể quan niệm này được “thơ Nôm hóa” bởi dân gian (khuyết danh, trong chùm “Lục súc tranh công”: “Gia súc tự khoe, chỉ Dậu ta/ Nam nhi ngũ đức đáng vinh ca/ Đuôi cong, giò cứng, kiêu hùng dũng/ Mào đỏ, cựa dài: văn võ hòa/ Có thóc, gọi đàn: nhân với bạn/ Canh giờ, gáy sáng: tín cùng nhà/ Thác rồi lông vẫn còn lưu dụng/ Giỗ chạp, mâm xôi chẳng thiếu gà”.

Luôn mang một chiều sâu văn hóa, theo thời gian, biểu tượng được bồi đắp, tích lũy thêm các lớp ý nghĩa mới xếp chồng lên nhau. Vì lẽ này biểu tượng luôn mang tính mơ hồ, trừ biểu tượng nguyên thủy, còn lại rất khó rạch ròi đường biên tiếp xúc, vì các ý nghĩa lẫn vào nhau, ở trong nhau, tạo thành “hợp chất” không thể phân tích. Tiếng gà của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm ở vị trí nào? Rõ ràng là không mới nhưng đọc lên vẫn thấy thú vị vì nó gợi lên trường liên tưởng hóm hỉnh về một hình tượng quen thuộc mà có nhiều ý nghĩa.

Không có vốn không đọc hiểu được thơ cổ, vì có khi tứ thơ tựa vào một điển cố, như bài “Hạc thi”: “Phong lệ Trường Hoài trợ Tấn uy/ Ngoạn vật y thùy khinh lộc vị/ Thừa hiên quá sủng mạn di ky” (Tiếng gió rít trên Trường Hoài giúp cho uy lực nhà Tấn/ Thưởng ngoạn cảnh vật, ai đó coi nhẹ tước vị?/ Quá yêu quý cho ngồi xe, để tiếng chê cười về sau).

Trong “Tấn thư”, truyện “Tạ Huyền” kể: trận chiến ở Trường Hoài quân Bồ Kiên có đến trăm vạn, Tạ Huyền chỉ có tám nghìn quân. Thế mà quân Bồ Kiên thua tháo chạy, sợ đến mức nghe tiếng gió rít, hạc kêu cũng tưởng là quân đối phương đến. Ý này giễu: khi đã sợ thì nhìn/nghe thấy cái gì cũng sợ. Trong “Tả truyện” lại kể: Vệ Ý Công hiếu hạc, hạc hữu thừa hiên giả (Vệ Ý Công thích hạc, hạc cũng được đi xe dành cho đại phu). Khi có biến, Vệ Ý Công khởi binh, các tướng đều nói: cho chim hạc đi (mà) đánh, vì đó mới là đại phu! Tiếng cười trong điển cố hướng về người quá yêu chim hạc. Nhắc lại điển này để giễu những ai quá yêu một cái gì dễ dẫn đến họa, nên phải biết chừng mực.

image003.jpg -0
Hình minh họa chiến tranh Sở - Hàn.

Như vậy điển cố như cái bản lề mở ra cánh cửa không gian văn chương quá khứ để kiến tạo một văn bản có ý mới. Về thực chất đây là “lối tập cổ” - một biểu hiện của quan niệm “thuật nhi bất tác” (kể lại chứ không tạo mới), khuyến khích đọc nhiều, biết nhiều (Cao Bá Quát tự hào có “bồ chữ” là từ căn cứ này) nhưng thiếu sáng tạo, bởi luôn lấy cái đã qua làm “mẫu mực”. Dùng đúng đủ, phù hợp thì hay, nhưng lạm dụng sẽ dẫn đến sự nặng nề, gây cảm giác tác giả “khoe chữ”. Không ít bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm sa vào hạn chế này.

Trong bài “Ngụ ý 5” có câu: “Tiếu tha mại lý dữ phân hương” (Cười kẻ bán giày với chia mùi hương). Rất khó hiểu. Phải tìm về điển tích, trước khi chết Tào Tháo (thời Tam quốc) có di lệnh, đại ý: “hương thừa” chia cho các phu nhân; các thê thiếp không có việc làm thì tết giày đem bán. Về sau điển “mại lý dữ phân hương” (bán giày với chia mùi hương) để cười những kẻ như Tào Tháo sắp chết mà vẫn quyến luyến thê thiếp, tiếc sắc dục nơi cõi trần. Vẫn có cách hiểu khác, ngầm khen Tào Tháo có lòng thương những người từng phục vụ mình!?

Đóng góp lớn của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là vạch trần sự thối nát về đạo lý. Cũng chỉ khi viết về chủ đề này thơ ông mới phát huy hết được cái ý thâm sâu của điển cố như ở bài “Cảm hứng”: “Sự quân thần bất thần/ Sự phụ tử bất tử/ Tạ kiên thị nhẫn vi/ Phân canh diệc võng quý” (Thờ vua tôi chẳng ra tôi/ Thờ cha con chẳng ra con/ Bắn vào vai còn nỡ lòng làm/ Chia bát canh không thấy thẹn). “Tam cương” là ba mối quan hệ cơ bản của xã hội, nhưng quan hệ “vua tôi” thì “Thờ vua tôi chẳng ra tôi”; quan hệ “cha con” thì “Thờ cha con chẳng ra con”; quan hệ bạn bè thì “Chia bát canh không thấy thẹn”.

Ý thơ lấy từ điển tích: Hạng Vũ và Lưu Bang từng coi nhau như anh em để chống Tần. Tần bị diệt, anh em lại mâu thuẫn muốn giết nhau. Một lần Hạng Vũ bắn trúng vai Lưu Bang. Lần khác Lưu Bang vây Hạng Vũ, Vũ bắt cha Bang lên mặt thành và nói Bang không rút sẽ cho cha vào nồi nấu canh. Bang nói: cha ta cũng như cha ngươi, nếu nấu cho ta bát canh. Tích này mỉa mai cay đắng những kẻ từng coi nhau như anh em rồi bất nghĩa tráo trở tàn hại lẫn nhau. Nói bao điều giáo huấn cần đến sắc thái trang trọng mà chỉ gói trong mấy câu thơ, không thể không dùng điển cố. Đó phải là tài năng, uyên bác, uyên thâm!

Nhà thơ mỉa mai những kẻ háo danh (trong “Nguyên đán ngẫu thành 2”) qua một điển cố đích đáng: “Tề môn cổ sắt tiếu vương thông/ Sĩ chỉ tùy thì chước thử trung” (Gảy đàn sắt ở cửa nước Tề, cười thay không vào được cửa vua/ Giữ chữ “trung”, ra làm quan hay lui đều nên tùy thời). Mượn điển tích vua nước Tề thích nghe thổi sênh, có kẻ muốn làm quan bèn mang đàn cầm đến cửa cung gảy, ba năm liền vẫn không được vào hầu vua. Câu chuyện chế giễu cay độc những kẻ hám danh đến mức ngu muội và bán rẻ danh dự của chính mình.

Ngu ở chỗ nhà vua thích nghe sênh thì lại đem đàn cầm đến gảy. Bật ra một quy luật: sự hám danh sẽ làm ngu muội những đầu óc vốn bình thường (biết chơi đàn cầm). Hám danh còn dẫn đến sự coi thường chính mình: đứng cửa cung chơi đàn ba năm, vẫn đứng. Đây không phải vấn đề kiên trì mà là sự trơ trẽn thảm hại. Còn toát lên một ý: nghệ thuật là địa hạt của sự vô tư trong sáng vẫn có thể là chỗ để kẻ cơ hội lợi dụng!

Như cái chìa khóa mở ra các mã văn hóa, không thể không hiểu điển cố để nắm bắt ý nghĩa của các tác phẩm chữ Hán. Theo quy luật tiếp biến, điển cố đi vào cả văn thơ chữ Nôm. Bài học rút ra cho hôm nay: chỉ nên chọn những tác phẩm nào có điển cố mang tính thông dụng, phổ biến đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).