Đinh Thị Như Thúy - gương mặt của tiếng thơ nữ quyền

Trong bản đồ thơ nữ Việt Nam hôm nay, Đinh Thị Như Thúy mang đến một gương mặt của tiếng thơ nữ quyền, một tiếng nói “tối giản tỉnh thức” nhưng không ồn ào tuyên ngôn, không phô trương kỹ xảo, mà kiến tạo một mỹ học của im lặng và phục sinh.

Nếu như nhà thơ Ý Nhi nâng cao chất trầm tĩnh trí tuệ của thi ca, nhà thơ Như Bình tìm cách vượt qua nỗi hoang mang trầm cảm của hiện sinh đô thị, thì nhà thơ Đinh Thị Như Thúy đi một lối rẽ riêng với kháng cự mềm bằng nhịp thở, bằng biểu tượng đời thường được tinh luyện thành “ngôn ngữ của vết thương đã biết tự lành”.

nhà tho ðinh th%3f nhu thúy.jpg -1
Nhà thơ Đinh Thị Như Thúy.

Đặc trưng thi pháp nổi bật trong tập thơ “Trong những ngày đợi quên” mới xuất bản của chị là sự tối giản hình ảnh, tối đa vang âm nhưng mỗi chi tiết đều mang tải trọng biểu tượng cao và sự kiệm lời mở ra khoảng trống để người đọc tự cộng hưởng.

Nhịp điệu thiền của thi ca với quyền được im lặng

Đáng chú ý, thơ Đinh Thị Như Thúy giữ được nhịp điệu thiền và “quyền được im lặng” với những câu thơ ngắn, ngắt dòng liên tục, điệp nghịch lý biến trang giấy thành không gian thở. Đây là thi pháp định hình một đạo sống hơn là chỉ phát biểu cảm xúc. Bên cạnh đó là mỹ cảm của thương tích và phục sinh khi bề mặt là “vết sẹo đô thị” và chiều sâu tinh thần là năng lực hồi phục. Thơ không né tránh tổn thương, mà nâng cấp nó thành tri thức sống.

Đặc điểm này thể hiện khá rõ trong bài thơ “Xác thuyền” sau đây: “Mất khả năng nghe mưa/ Chúng ta khước từ cơ hội/ Chạm mặt /Với nỗi buồn từng mong/ Giờ đây/ Trong thế giới thảm hại của chúng ta/ Thế giới nặng ám những rủa nguyền/ Tất thảy ý nghĩa của đời sống con người/ Chỉ còn là hủy diệt/ Tất thảy niềm vui bị rút kiệt/ Chỉ còn chiếc bình gốm vỡ/ Không bông hoa/ Chỉ còn xác thuyền trên bãi lạnh/ Những rùng mình sấp mặt/ Sóng/ Cát /Chôn vùi”.

Bài “Xác thuyền” chính là tứ thơ của phế tích và mỹ học của kiệt quệ, phát khởi từ hai phế tích song song: “chiếc bình gốm vỡ/ không bông hoa” và “xác thuyền trên bãi lạnh”. Trước đó, một phán đoán lạnh buốt được nén lại: “tất thảy ý nghĩa của đời sống con người chỉ còn là hủy diệt/ tất thảy niềm vui bị rút kiệt”.

Cấu trúc của tứ thơ đi từ đánh mất cảm năng (mất khả năng nghe mưa) đến từ chối đối diện (khước từ cơ hội chạm mặt nỗi buồn) và kết cảnh “phế tích đôi” làm biểu tượng cho sự cạn kiệt ý nghĩa. Cái đích của thi pháp này nhằm giảm âm vang cảm xúc, tăng lực biểu tượng của vật thể với câu thơ cắt ngắn, xuống hàng để mở khoảng trống cho nỗi buồn “tự thở”. Trường mỹ cảm tuy u ám nhưng không phải để tuyệt vọng mà để trung thực hóa tình trạng tinh thần khi vui buồn đều bị “rút kiệt”, điều còn lại là vỏ (xác/bình) như một tri nhận hiện sinh thẳng thắn.

Bước ra khỏi không gian trầm uất của “Xác thuyền” ta đến với tứ thơ hành hương của mỹ cảm thiền trong bài: “Sáng mùng một lên chùa Linh Ứng” với các biểu tượng của sự an trú: “Họ đi trong bóng râm của cây cầu/ Những sắt thép nói lời cứng cỏi/ Họ biết ngày mai mặt trời vẫn mọc/ Như vạn ngàn ân sủng/ Cho sự sống mãi còn/ Càng lên cao không gian càng mở ra mát rượi/ Họ ngồi dưới gốc bồ đề/ Lá chuốt hình tim huyền bí/ Những đôi mắt khép hờ nhìn xuống/ Những đôi môi mỉm nhẹ nụ cười/ Biết mà không biết/ Có mà không có/ Đau mà không đau/ Rơi xuống tự trời sâu/ Một bầy hoa xanh đang chờ tay người cắm”.

Cấu trúc của tứ thơ chuyển động lên cao (càng lên cao… càng mát rượi) rồi ngồi dưới bồ đề với tam đoạn nghịch lý “biết mà không biết/ có mà không có/ đau mà không đau” và “một bầy hoa xanh” rơi xuống tay người. Thi pháp với ngôn ngữ của những câu hỏi về thiền, đối sánh nghịch lý để hóa giải sự bám chấp, kết bằng ân sủng của màu xanh của tái sinh. Với trường mỹ cảm của tôn giáo đời thường, việc đi chùa như một nghi thức hít thở lại khi cái “biết” ở đây là biết bằng trải nghiệm thân-tâm chứ không phải mệnh đề.

Thơ Đinh Thị Như Thúy đặt ra vấn đề từ “nữ quyền ồn ào” đến “nữ quyền tỉnh thức”. Trong văn cảnh thơ Việt đương đại, tiếng nói nữ quyền không chỉ là những tuyên ngôn đối đầu trực diện, mà còn là một mỹ học sống trong lựa chọn cách hiện diện, cách chăm sóc và cách hồi phục của người nữ giữa đô thị nhiều đứt gãy.

Tập thơ “Trong những ngày đợi quên” kiến tạo kiểu nữ quyền ấy qua nhịp điệu kiệm lời, qua các nghi thức nhỏ (uống trà, đốt trầm, hít thở, đi chùa, ngồi yên), qua hình ảnh của nhà - phòng - vườn - thân thể - hơi thở. Sức mạnh ở đây đến từ khả năng đặt tên nỗi đau, chấp nhận thương tích, rồi chuyển hóa nó bằng một đạo sống bền bỉ.

Trong thơ chị, đô thị như văn bản cần “đọc” khi thành phố không phải phông nền mà là một văn bản cảm giác của tiếng sóng, tiếng chổi, tiếng bồ câu, mùi gỗ, trầm và sách. Nhà thơ giảm thị giác, tăng thính giác/khứu giác/xúc giác để chống lại sự ồn ã của thời đại.

Giọng điệu thơ hiền và trầm, tránh bi kịch hóa, tránh lên gân phẫn nộ, thay vào đó là kỷ luật của sự nhìn, nghe và gọi tên. Sự hiền ở đây không là nhún nhường, mà là độ chín của kiểm soát cảm xúc. So với thơ nữ truyền thống trữ tình, thơ Đinh Thị Như Thúy cập nhật tinh thần chánh niệm và ngôn ngữ của trị liệu tinh thần, phù hợp hậu cảnh của khủng hoảng và đại dịch.

Thi pháp ẩn dụ trong trường mỹ cảm của thương tích

Với trường mỹ cảm của thương tích được thanh tẩy, bài thơ “ Phục sinh màu lá” của tác giả cho thấy “lá xanh” là dấu chỉ sau cùng của sức bền tinh thần: “ Tôi là mưa một buổi sáng cuối mùa/ Trong căn phòng khép cửa/ Tôi rơi cùng tiếng sấm/ Tôi chảy trôi theo các con đường/ Tôi mang trong mình xác phượng đỏ bầm/ Xác ve sầu buồn bã/ Xác lá khô và rác thị thành/ Tôi bình yên/ Tôi không bình yên/ Tôi trong suốt vì đã quá lâu im lặng/ Tôi không còn làn da để tái nhợt/ Để nóng ran khi nghĩ về anh/ Tôi choáng váng đã quá gần với biển/ Dạt dào tiếng mưa trong khô hạn/ Chảy tràn tâm trí tôi/ Cơn bão phục sinh đang quét qua thành phố/ Nơi tôi mọc lên những lá xanh”.

Với tứ thơ hóa thân: “tôi là mưa”, tác giả để một “tôi - mưa” chảy qua thành phố, mang theo xác phượng, xác ve, rác thị thành. Đây là cấu trúc của tứ thơ tự sự cảm giác (tôi là mưa), tự phân đôi (tôi bình yên/ không bình yên) khi cơn bão phục sinh quét qua “nơi tôi mọc lên những lá xanh”. Thi pháp hóa thân này đồng nhất cái tôi vào chất liệu tự nhiên để gột rửa, đối ngẫu cảm xúc (bình yên/không bình yên) như một kỹ thuật nhận diện trạng thái.

bìa t%3fp tho nh%3fng ngày d%3fi quên.jpg -0
Bìa tập thơ “Trong những ngày đợi quên”.

Trong lời tự bạch mở đầu tập thơ, tác giả cho biết: “Mỗi bài thơ trong tập này là một lát cắt “Trong những ngày đợi quên” của tôi. Là khoảnh khắc tôi ngồi xuống và thành thật với cảm xúc của mình. Có thể là một nỗi buồn cũ, một ký ức tưởng đã nguôi. Có thể là một nụ cười nhỏ mà tôi đã cố giữ lại giữa những u tối mơ hồ.

Tôi tin rằng, dù bạn đang ở đâu, đã từng trải hay đang bước qua buồn vui nào, bạn cũng sẽ có đôi chút đồng cảm với tôi. Bởi có ai trong chúng ta chưa từng có một vài ngày đợi quên?”. Lời mở nói trên đặt ra một “tiền giả định thi pháp”, ở đây, “đợi quên” trở thành trục mỹ cảm trong một trạng thái tỉnh thức mềm, dịu mà bền, dẫn lối thi ảnh vừa kiệm lời vừa thấm thía làm nền cho mọi lựa chọn đề tài, giọng điệu, cấu trúc tứ.

Trong bài thơ “Những mùa hoa thương tích”, Đinh Thị Như Thúy một lần nữa học cách sống cùng thiên nhiên: “Hoa luôn tự biết làm cho mình duyên dáng/ Bằng dáng vẻ mùi hương/ Và những đường gân dệt trên cánh lụa/ Màu hoa lạnh/ Màu của ngày thứ sáu, thứ hai/ Khi con dốc mưa bụi vắng người/ Đếm từng cơn gió buốt/ Chúng ta bắt đầu biết/ Một bông hoa có thể đẹp đến nhường nào/ Trong sự nở/ Từ e dè đến nồng nhiệt/ Trong héo tàn tưởng như lời than khó/ Những bông hoa cánh rã/ Như cánh bướm sau một ngày bay/ Nói với chúng ta lời tạm biệt và biết ơn/ Được đi qua cõi đời/ Được ngắm nhìn / Được yêu/ Được sống/ Bởi đời sống không chỉ những dịu dàng nếm trải/ Sống còn để mang thương tích/ Như vết chém trên thân hoa/ Ngày được trao tặng”.

Bài thơ này là bản hiến ngôn về cái đẹp khi bông hoa biết làm duyên bằng mùi - dáng - gân lụa, đẹp ở cả khi tươi nở lẫn khi héo tàn với vẻ đẹp không vô tội vì mang “thương tích”. Cấu trúc tứ thơ cho thấy sự quan sát tinh tế của tác giả với bài học thẩm mỹ của tuyên ngôn nhân sinh: sống để mang thương tích như “vết chém trên thân hoa ngày được trao tặng”. Với thi pháp ẩn dụ mô phỏng nhịp hô hấp của một bông hoa trước gió trong trường mỹ cảm an nhiên trước thương tích và biết ơn hành trình sống.

Qua tập thơ mới, ta thấy những đóng góp của Đinh Thị Như Thúy cho thi ca đương đại là định hình một mỹ học “tối giản tỉnh thức” có sức lan tỏa trong thơ nữ hôm nay và đề xuất mô hình nữ quyền đời thường với quyền được mệt mỏi, được im lặng, được tự định nghĩa nỗi đau, và được làm lành bằng nghi thức nhỏ. Chị cũng góp phần làm mới phong cách thơ đô thị bằng trường cảm giác thay vì phóng đại hình ảnh sự kiện.

Đinh Thị Như Thúy đã bổ sung vào thơ nữ đương đại Việt Nam một tọa độ thẩm mỹ bền sâu khi không đả kích lớn tiếng nhưng bào mòn cái dữ dội bằng sự kỹ lưỡng của cảm giác và tiết chế của hơi thở. Đó là thơ của sức bền tinh thần, nó nhẹ mà sâu, dịu mà sáng nơi những vết thương không bị xóa đi, mà được đặt đúng chỗ để nảy mầm “lá xanh”.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).