Diễn ngôn sinh thái trong thơ Việt Nam đương đại

Trong xu thế vận động và phát triển của văn học Việt Nam đương đại, diễn ngôn sinh thái ngày càng có điều kiện phát triển khi những nhận thức về môi trường sống, về cảnh quan tự nhiên, về biến đổi khí hậu, về ô nhiễm môi trường… đang đặt ra nhiều thách thức.

Trong những điều kiện đó, diễn ngôn sinh thái phát triển nhằm thể hiện những tiếng nói của nhà văn trong việc bảo vệ môi trường tự nhiên cũng như những lo âu trước sự tác động quá mức của con người vào tự nhiên.

Diễn ngôn sinh thái cùng với phê bình sinh thái tập trung thể hiện và nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Trong văn xuôi đã có nhiều nhà văn thể hiện diễn ngôn này như Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư… phạm vi bài viết này tôi xin đề cập đến diễn ngôn sinh thái trong thơ đương đại với những cảm nhận và suy ngẫm từ góc nhìn cá nhân qua một số tác giả, tác phẩm cụ thể của Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Lê Đình Tiến...

nhà văn, nhà thơ có trách nhiệm chuyển tải thông điệp về mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên qua tác phẩm của mình..jpeg -0
Nhà văn, nhà thơ có trách nhiệm chuyển tải thông điệp về mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên qua tác phẩm của mình.

Thông điệp nhân văn

Mai Văn Phấn là một trong những nhà thơ đương đại có nhiều diễn ngôn sinh thái qua hàng chục tập thơ và trường ca trong những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI. Thông qua các sáng tác của mình nhà thơ đã bộc lộ những cách nhìn, cách cảm về thiên nhiên, về môi trường sống của con người trong các tương quan gắn bó khăng khít. Ông nói nhiều đến đất, nước, gió, lửa, mặt trời, chim muông, hoa cỏ… tất cả tạo thành một hệ sinh quyển tự nhiên gắn bó với con người như cách tiếp cận trái đất là trung tâm.

Con người cần tôn trọng tự nhiên bởi khi tự nhiên vận hành theo quy luật của nó thì sự sống mới sinh sôi, tiếp diễn, ngược lại nếu con người tác động xấu đến tự nhiên thì tất sẽ phải gánh chịu những hậu quả nặng nề. Đọc thơ Mai Văn Phấn dễ dàng bắt gặp những diễn ngôn sinh thái như vậy: "Thẳng/ Tán cây quang hợp mặt trời/ Lá chồng lên nhau hoan hỉ/ Bật dậy thở chung dòng nhựa/ Máu từ đất đai chạy qua bàn chân"… (Hình đám cỏ - Nhịp VI).

Trong bài thơ "Nhật kí đô thị hóa", Mai Văn Phấn đã từ những kí ức tuổi thơ nơi làng quê với những lùm cây, ngôi nhà, mảnh sân, đồng xu gỉ, lỗ đáo, chân cò, chó đá, bến sông, củi ướt… một thời và người mẹ lam lũ để nhận ra sự thay đổi, tiếc nuối những giá trị tinh thần xưa cũ trước quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng như "Gió đang chạy trên lưng mình những bước chân đô thị". Quá trình đô thị hóa diễn ra chóng vánh khiến con người không khỏi ngơ ngác trước văn minh, chưa thể thích ứng và bắt kịp của những cư dân lúa nước mấy ngàn năm:

Mẹ ơi mẹ! Giờ con thấy bóng râm từ bùn đất
Đất ở dưới chân mà cao hơn những suy nghĩ của mình
Đêm thai nghén những thị thành trứng nước
Ai ấy còn ngơ ngác trước văn minh.

                     (Nhật kí đô thị hóa)

Trong bài thơ "Con chào mào", Mai Văn Phấn đã từ hình ảnh con chim chào mào và tiếng hót trong trẻo của nó để cảnh tỉnh con người trước những ý nghĩ sở hữu, chiếm đoạt, tác động thô bạo vào tự nhiên. "Con chào mào đốm trắng mũ đỏ/ Hót trên cây cao chót vót/ triu… uýt… huýt… tu hìu"… Bài thơ có hai hình ảnh: con chào mào và nhân vật Tôi. Nhân vật Tôi vội vẽ chiếc lồng trong ý nghĩ/ sợ chim bay đi, con người với quan niệm là vật linh trưởng có thể sở hữu mọi thứ, chiếc lồng và ý nghĩ cũng là một biểu hiện sự chiếm đoạt tự nhiên.

Tuy nhiên ý nghĩ chiếm đoạt, sở hữu của con người hoàn toàn đối lập với bản năng tự do của loài chào mào. Nhân vật Tôi ngay lập tức vẽ chiếc lồng trong ý nghĩ nhưng thật trớ trêu vừa vẽ xong nó cất cánh, đó là sự cảnh báo con người trước những suy nghĩ nông cạn, thiển cận, cần phải tôn trọng tự nhiên. Kết thúc bài thơ nhân vật Tôi ngộ ra chân lý: "Chẳng cần chim lại bay về/ Tiếng hót ấy giờ tôi nghe rất rõ". Tiếng chim ấy đang làm đẹp cho đời, cho cuộc sống chúng ta hãy nâng niu trân trọng tự nhiên, thông điệp bài thơ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Đánh thức lương tri

Nguyễn Quang Thiều là một trong những nhà thơ đương đại tiêu biểu có nhiều diễn ngôn sinh thái cả trong văn xuôi và thơ, ông có nhiều tác phẩm tiêu biểu cho diễn ngôn sinh thái như: "Có một kẻ rời bỏ thành phố", tiểu luận, 2010, "Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng", tạp văn, 2016; "Mùi ký ức", tùy bút, 2017; "Nhịp điệu châu thổ mới", 1997; "Bài ca những con chim đêm", 1999;  "Châu thổ", 2010; "Dưới ánh trăng và một bậc cửa", 2020…

Trong các trang viết của mình, Nguyễn Quang Thiều đã khắc họa những bức tranh về làng  quê với bến sông, vạt hoa cải, cánh đồng, cây cỏ… cùng những kí ức về làng quê một thời chưa xa cũng như những tiếc nuối những cảnh quan yên bình trước sự xâm lấn của quá trình đô thị hóa, trước sự tác động của con người vào tự nhiên.

Nguyễn Quang Thiều sinh ra và lớn lên ở một làng quê bên bờ sông Đáy, như một lẽ tự nhiên sông Đáy đã chảy vào cuộc đời nhà thơ với dòng nước ngọt mát, với những kí ức thẳm sâu trong lồng ngực để từ đó ngân vang những giai điệu trữ tình lắng sâu. Sông Đáy là quê hương, là nguồn cội, là những gì bình dị mà lớn lao trong sinh cảnh làng quê để khi xa quê nhà thơ dâng trào nỗi nhớ: "Sông Đáy chảy vào đời tôi/ Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vả/ Tôi dụi mặt vào lưng người đẫm mồ hôi mát một mảnh sông đêm/ Năm tháng sống xa quê tôi như người bước hụt/ Cơn mơ vang lên tiếng cá quẫy tuột câu như một tiếng nấc"…  (Sông Đáy).

Trong bài thơ “Tiếng vọng”, sự vô tâm của nhân vật trữ tình đã dẫn đến cái chết của một con chim sẻ nhỏ khi bão đến, cái chết ấy trở thành nỗi ám ảnh khôn nguôi. Cái chết của chim sẻ khiến con người giật mình thức tỉnh lương tri, con người cần bảo vệ tự nhiên, cần sống hài hòa với tự nhiên chỉ có như thế tự nhiên mới đem lại cho con người niềm vui, sự bình an. Việc trả giá cho sự vô tâm của con người trong mỗi đêm bằng tiếng đập cửa, bằng những quả trứng lăn vào giấc mơ như đá lở trên ngàn phải chăng là sự phản tỉnh của con người trước những biến đổi của môi trường tự nhiên do chính con người tác động vào:

Đêm đêm tôi vừa chợp mắt
Cánh cửa lại rung lên tiếng đập cánh
Những quả trứng lại lăn vào giấc ngủ
Tiếng lăn như đá lở trên ngàn.

                              (Tiếng vọng)

Những khám phá riêng trong mạch chung

Lê Đình Tiến là tác giả trẻ nhưng có duyên với thể thơ lục bát truyền thống, anh quan sát những gì đang diễn ra ở làng quê trong quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa với sự phá vỡ cảnh quan truyền thống như hàng cau, ao ngõ, chợ búa… để thay vào đó những gì của văn minh đô thị.

Nhiều câu thơ Lê Đình Tiến viết về những thay đổi của làng xưa quê cũ mà không khỏi bâng khuâng, ngậm ngùi: "Làng tôi mất một lối mòn/ Không còn tường cũ, không còn hàng cau"; "Cây cau cũng chặt bao giờ/ Những đêm trăng phải thơm nhờ nhà bên". Bên cạnh những câu thơ viết về lối sống mới của làng quê: "Chợ làng cạnh gốc cây si/ U tôi vẫn đạp con mini tàu/ Gái quê học thói sang giàu/ Xài iPhone với nhuộm đầu cũng xinh"; "Trẻ con lên mạng xem trâu/ Tiếng gà xáo xác thi nhau thở dài".

Cảnh quan sinh thái làng quê thay đổi theo quá trình đô thị hóa trong thơ Lê Đình Tiến xuất hiện qua rất nhiều bài thơ, đoạn thơ với điệu trữ tình riêng vừa ngậm ngùi, tiếc nuối vừa xót xa, chua chát. Sự xuất hiện nhiều cái mới của nhịp sống đô thị nơi làng quê khiến chủ thể trữ tình không khỏi băn khoăn, lo lắng:

Về quê thăm bụi cúc tần
Người xưa bỏ ngõ lở dần tường bao
Về quê thăm lại cầu ao
Cây xoan đã chặt chênh chao cánh chuồn...

                                      (Về quê)

Có thể nói diễn ngôn sinh thái trong thơ Việt Nam đương đại được thể hiện khá phong phú với nhiều cung bậc, giọng điệu, mỗi nhà thơ có một cách khám phá và thể hiện riêng trong mạch chung của văn học sinh thái. Nhà thơ Đặng Bá Tiến không khỏi xót xa, tiếc nuối trước những cánh rừng già nơi đại ngàn Tây Nguyên bị con người tàn phá không thương tiếc: "Còn đâu điệu múa xòe của những bầy công/ cánh rừng bên sông chỉ còn đất trống/ lau phơ phất một màu tang trắng/ hồn cẩm, hương… cũng hết gốc nương nhờ/ Nơi đàn voi quần tụ dưới trăng mơ/ giơ những đống xương khô tàn lạnh/ mùa săn voi chỉ còn ảo ảnh/ trong hoài niệm hằng đêm lại vỗ cánh bay về".

Nhà thơ Nguyễn Thế Kiên sau những nhọc nhằn mưu sinh nơi phố thị lại về nhận diện "Mặt quê" khi quê đang đổi thay nhanh chóng, những giá trị xưa cũ, bao kỷ niệm buồn vui một thời chỉ còn trong hoài niệm.

Mở lòng ra điểm mặt quê
Đèn khuya lành lạnh lối về nửa quen...
Ruộng vườn đổi mốt như em
Cáy cua cổ tích đã đem đi rồi
Con trâu ngóng thẳng lên trời
Mảng lưng đen bóng chỗ ngồi tuổi thơ.

Trên đây chỉ là một vài cảm nhận bước đầu về một vấn đề khá mới trong đời sống văn học đương đại, còn rất nhiều diễn ngôn sinh thái của các nhà thơ đương đại mà chúng tôi chưa có điều kiện khảo sát, tìm hiểu. Chúng tôi mong muốn có thêm nhiều đề tài nghiên cứu, các hội thảo, chuyên luận về mảng văn học này để có những định hướng trong sáng tác và tiếp nhận văn học cũng như thay đổi nhận thức của con người.

Nguyễn Quỳnh Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).