Diễn đàn văn học - nghệ thuật Âm nhạc dân tộc có lạc lõng trong cuộc sống hiện đại?

Âm nhạc cổ truyền từ lâu đã là một món ăn tinh thần trong đời sống của người dân Việt, đó là những tinh túy của ông cha được chắt lọc, truyền nối từ nhiều đời, tạo nên bản sắc văn hóa Việt.

Làm gì để bảo vệ nhạc dân tộc trong xu thế hội nhập hiện nay?

Âm nhạc cổ truyền từ lâu đã là một món ăn tinh thần trong đời sống của người dân Việt, đó là những tinh túy của ông cha được chắt lọc, truyền nối từ nhiều đời, tạo nên bản sắc văn hóa Việt. Kho tàng âm nhạc cổ truyền phong phú và đa dạng với nhiều loại hình độc đáo trải dài trên dải đất hình chữ S: Tuồng, chèo, cải lương, nhã nhạc cung đình, hát xoan, hát dân ca, (dân ca quan họ, dân ca Nghệ Tĩnh, dân ca Nam trung bộ…) đàn ca tài tử, ca trù, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên…

Nhưng trong cuộc sống hiện đại ngày nay, khán giả liệu còn có mặn mà với âm nhạc truyền thống? Âm nhạc truyền thống hiện nay ra sao trong sự cạnh tranh của nhiều loại hình nghệ thuật giải trí khác. Trong thị trường âm nhạc hỗn loạn như hiện nay, âm nhạc truyền thống còn có chỗ đứng hay sống phận dật dờ lay lắt?! GS Trần Văn Khê đã từng nói: “Nếu để mất âm nhạc truyền thống thì ngàn vàng cũng không thể mua lại được, mọi hành động quay lưng với văn hóa là có tội với tổ tiên”.

Diễn đàn văn học - nghệ thuật Âm nhạc dân tộc có lạc lõng trong cuộc sống hiện đại? -0
Biểu diễn âm nhạc truyền thống trong sinh hoạt văn hóa của Đình làng Việt.

Thị trường âm nhạc nhiều năm trở lại đây trở nên sôi động lạ thường, từ Pop, Rock, Rap, nhạc trẻ, nhạc mới, nhạc Hàn, nhạc Anh… tạo nên một thị trường vô cùng phong phú và đa dạng, điều đó đồng nghĩa với việc khán giả có quá nhiều sự lựa chọn. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng tạo nên cho đời sống âm nhạc thêm nhiều màu sắc, từ những clip được đầu tư hàng trăm triệu, hàng tỷ đồng, công phu trong cách dàn dựng, những phòng thu đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, và các cuộc thi âm nhạc dành cho giới trẻ rầm rộ trên sóng truyền hình… Tất cả điều đó tạo nên những tên tuổi mới nổi, thần tượng của giới trẻ, hay những ngôi sao ca nhạc, nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc âm nhạc cổ truyền phần nào bị lép vế.

Nhiều cuộc hội thảo được tổ chức để tìm con đường cho âm nhạc cổ truyền, nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đau đáu khôn nguôi khi thấy thế hệ con cháu mình say sưa với những màn vũ đạo nảy lửa, hừng hực cháy của các mùa Rap Việt, hay kéo đến chật kín sân khấu ngoài trời khi có những đêm biểu diễn nhạc Tây, hay chương trình liveshow của một ngôi sao ca nhạc đang lên… Âm nhạc cổ truyền trôi trong đời sống một cách âm thầm, lặng lẽ, không có fan cuồng, không có những buổi biểu diễn kín rạp…

Khán giả đến với âm nhạc cổ truyền dân tộc vì tò mò hay vì yêu thích thực thụ?! Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc chua xót nhận ra rằng, hiện nay khán giả trẻ đến với âm nhạc cổ truyền vì tò mò bởi vì để yêu thích thì cần phải hiểu nó, nhưng không hiểu, không gắn bó thì làm sao có thể yêu thích được?!.

Người ta đến Huế đi thuyền trên sông Hương để nghe Ca Huế, hay dịp đầu năm đi Hội Lim để nghe Quan họ, vào miền Nam để nghe Cải lương. Các trích đoạn chèo được diễn ở sân khấu khu phố cổ dành cho du khách nước ngoài, người nghệ sĩ biểu diễn hát văn trên phố đi bộ ở khu phổ cổ Hà Nội, dăm ba quán trà đạo trên khu phố cổ Hội An mời nghệ sĩ chơi âm nhạc dân tộc vào mỗi tối… đa phần âm nhạc cổ truyền đang được gắn với du lịch.

Nhưng sự thực nếu gắn âm nhạc cổ truyền với du lịch thì công việc này còn có những hạn chế gì? Sự quảng bá, bảo tồn âm nhạc cổ truyền như thế đã đủ và đúng chưa? Những kì liên hoan sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc tuồng, chèo, cải lương, có còn níu chân khán giả? Các đoàn nghệ thuật mang đến vở diễn trình làng là những vở cổ hay đã cách tân, diễn theo lối hiện đại? Trong điều kiện một nền công nghiệp hóa và kết nối toàn cầu hiện nay, liệu âm nhạc truyền thống dân tộc sẽ đi về đâu và nếu rơi rụng thì người ta phải tìm giải pháp nào để khôi phục? 

GS Hoàng Chương: Cách tân, cải tiến âm nhạc dân tộc làm biến chất, biến dạng các loại hình âm nhạc dân gian

Diễn đàn văn học - nghệ thuật Âm nhạc dân tộc có lạc lõng trong cuộc sống hiện đại? -0

Các loại hình đặc sắc như nhã nhạc cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên, quan họ, ca trù, hát xoan, đờn ca tài tử Nam bộ, dân ca Ví giặm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Chúng ta còn nhiều loại hình âm nhạc dân tộc cổ truyền như tiếng hát ru, đồng dao, các câu hò Huế, các thể loại sân khấu như tuồng, chèo, cải lương đã từng có thời kì rất phát triển, nhưng nay lay lắt vì ít người xem. Còn muốn có người xem thì nhạc cổ truyền cách tân quá mức, tức là hát có micro, có nhạc đệm, đàn organ hiện đại. Xu hướng cách tân, cải tiến âm nhạc dân tộc đang làm biến chất, biến dạng các loại hình âm nhạc dân gian đặc sắc do hàng trăm thế hệ nghệ nhân sáng tạo trong nhiều thế kỷ qua.

Trải qua thời gian, ta thấy các nghệ nhân được gọi là báu vật sống của các loại hình âm nhạc dân tộc lần lượt ra đi để lại một khoảng trống lớn. Hiện nay, người ta cũng chưa đưa nhạc cổ truyền vào trong giáo trình học, mặc dù học sinh đi học cũng có bộ môn âm nhạc ngoại khóa. Chúng ta cần tiếp cận âm nhạc cổ truyền này đến với giới trẻ, khơi dậy tình yêu âm nhạc để thế hệ trẻ hiểu, yêu thích giá trị tinh tuý của ông cha.

Đồng thời chúng ta cũng phải chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của các nghệ nhân, đủ điều kiện kinh tế để họ có thể an tâm trao truyền nghề, gắn bó với nghề. Đây chính là người giữ lửa, giữ nghề, để mất họ có nghĩa là nhạc cổ truyền bị tàn lụi theo. Đây là một vấn đề lớn mà không phải một vài nhà nghiên cứu, một vài trung tâm bảo tồn có thể làm được mà cần có sự chung sức, đồng lòng của cả một bộ máy nhà nước, sự hợp tác của tất cả các bên có liên quan, từ văn hóa, giáo dục từ Trung ương đến địa phương.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ: Muốn phục hồi và lưu giữ phải có kinh phí

Diễn đàn văn học - nghệ thuật Âm nhạc dân tộc có lạc lõng trong cuộc sống hiện đại? -0

- Sự so sánh nào cũng là khập khiễng, nhưng mà sự thực một giọng hát bình thường của một ca sĩ nổi tiếng trên mạng hát một bài hát nhạc trẻ có catse cao gấp 100 lần so với một giọng ca được đào tạo bài bản hát một bài hát nhạc truyền thống. Người ta nghĩ đi theo âm nhạc dân tộc sẽ nghèo nên phải dũng khí lắm thì người ta mới dám theo…

+ Đã từ rất lâu Khoa Kịch hát dân tộc của Trường Đại học Sân khấu & Điện ảnh Hà Nội không chiêu sinh được, khi tôi sang ngồi với NSND Lê Tiến Thọ, anh Xuân Yến (Tuồng) thì anh Yến mới kêu: “Tình hình này không chiêu sinh được Khoa Kịch hát dân tộc tuồng, chèo, cải lương. Hỏi thầy có sáng kiến gì không?”. Tôi nói: “Giờ các anh lập kế hoạch đi các trường cao đẳng nghệ thuật ở các tỉnh xung quanh miền Bắc chọn những em giỏi nhất năm thứ 2 hoặc thứ 3 rồi đưa về trường đào tạo''. Chính nghệ sĩ chèo Tự Long là cũng lấy theo diện này. Đích thân tôi về Trường cao đẳng Nghệ thuật Hà Bắc để lấy Tự Long lên, dưới này các anh ấy đi chiêu sinh kiểu đó thì được lớp Kịch hát dân tộc.

Kịch bản tuồng, chèo, cải lương bây giờ không ai viết cả, mà kịch bản là cái cần đầu tiên, bởi vì viết ra cũng vắng khán giả, không ăn khách, nên chả ai tha thiết muốn viết. Tính thị hiếu đang thay đổi thì âm nhạc dân tộc trong đó có dân ca, có kịch hát dân tộc, có nhạc cụ dân tộc, âm nhạc truyền thống không cạnh tranh nổi với các loại hình âm nhạc hiện đại ngày nay.

- Vâng, vậy thì làm sao để chúng ta bảo tồn, khuyếch trương âm nhạc truyền thống, chứ chẳng nhẽ lại để dần biến mất, hoặc không biến mất thì bị co cụm lại như thế này hay sao? Là một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, hẳn ông cũng sẽ đau đáu về điều đó chứ?

+ Về vấn đề bảo tồn nhiều người phát biểu: “của dân để dân làm”, dân làm thì họ trách nhiệm đến đâu? Tôi chưa thấy từ khi chiếm hữu nô lệ đến giờ mà bảo của dân để dân làm cả. Thời phong kiến ít nhất phải Lý trưởng đứng ra tổ chức. Lý trưởng là người của chính thể chứ. Bây giờ qua thời phong kiến rồi, sang thời nay Nhà nước phải có trách nhiệm để làm công tác bảo tồn những di sản quý báu của ông cha, nhưng ý thức điều đó thì chính thể của ta hơi yếu, không có cách làm. Họ đã đầu tư rất nhiều vào đào tạo, hầu hết các trường nhạc có Khoa Âm nhạc dân tộc, những giáo viên đó là thiết chế. Chuyên viên nghiên cứu đó là thiết chế. Đào tạo đạo diễn, đào tạo sáng tác là thiết chế. Tổ chức từ Trung ương đến địa phương cấp xã đó là thiết chế, nhưng thiết chế đó vận hành như thế nào nhiều khi nó không tương hợp.

Ví dụ như chúng ta chi một kinh phí cho âm nhạc dân tộc thì ngay lập tức là sự gì xảy ra?! Tỉnh nào cũng xin một ít. Quen biết xin một ít. Ông ở trường cũng xin một tí. Câu lạc bộ kia xin một tí. Đoàn kia xin một tí, sau tan hết. Có một khoản đầu tư cho âm nhạc di sản, đấy là đầu tư bằng gì bạn biết không?! Đấy là đầu tư bằng trang thiết bị, mua một bộ loa 20 triệu chở từ Lạng Sơn về khai thành 40 triệu mà được 1 năm là nó tan. Người ta đầu tư bằng nhạc cụ. Mà nhạc cụ thì người ta sang chợ Lạng Sơn mua ở Trung Quốc về cái thì cong, cái thì vênh, đánh ba bữa vứt. Mà nhạc cụ dân tộc thì ngay cả những người làm đàn cũng nói hay hay không là nhờ trời. Người ta xác suất cho cây đàn, đàn dân tộc khác chứ không phải như piano chuẩn. Thế là xong, mặc kệ cây đàn đó.

Các cụ ngày xưa khôn lắm, bảo tồn là đi vào đời sống của người dân. Bắt đầu từ năm 2.000 cả viện Hán Nôm chú ý đến cái bia cửa đình. Người ta phát hiện trên 100 cái bia cửa đình, gọi là đình môn ca. Đình môn ca chính là hát cửa đình. Trên cái bia cửa đình đấy có ghi cấp ruộng cho giáo phường. Cho nên bia đó ghi là ban ruộng nào ở đâu? Bao nhiêu mét? Và ở bên dưới ghi là phải hát những ngày lễ hội nào. Giáo phường hát vào các ngày giỗ nhà quan, ngày nhà đình, ngày lễ hội. Chính anh làm ruộng thì ruộng tồn tại muôn đời. Nhà tôi hát cho ông quan kia nhưng con gái đi lấy chồng xa, con trai đi làm bỏ đàn, giáo phường không hát được nữa thì làng mới họp lại đấu thầu việc hát này. Mỗi nhóm lại ra cửa đình, nhóm nào hát hay nhất sẽ thắng thầu, sẽ có được ruộng đấy. Điều đấy lan tỏa toàn bộ dân gian. Tại sao Quan họ lại lan tỏa, nhóm này thích hát, nhóm kia thích hát nhưng ruộng vẫn còn.

Còn hiện nay một sào ruộng ở vùng quê là 360 triệu vậy, các bà (nghệ nhân) có một khoản 360 triệu gửi tín dụng thì sao? Vậy thì mỗi năm có khoản vài triệu là tổ chức tốt còn có thể gặp nhau giao lưu. Tại sao chúng ta không học người xưa làm như vậy? Tôi tính một tỉnh như Nghệ An chẳng hạn, bây giờ bỏ 20 tỷ cho Sở Văn hóa, vậy 20 tỷ là được 100 triệu/ 1 tháng. Tiền này vẫn là ngân hàng Nhà nước kinh doanh. Nhưng 1 tháng có được 100 triệu thế thì 100 triệu có tổ chức được 4 cuộc ví dặm không? Thừa sức rồi. Các câu lạc bộ về giao lưu nhau, giao lưu ca Huế, Quan họ, thích thì trong tháng đấy người ta vẫn làm được chứ, nhưng tiền gốc vẫn trong đó không bị mất đi...

Nhà Nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền: Nghệ nhân mất đi thì giá trị âm nhạc dân tộc cũng ra đi theo

Diễn đàn văn học - nghệ thuật Âm nhạc dân tộc có lạc lõng trong cuộc sống hiện đại? -0

- Là một người gắn bó cả đời với âm nhạc truyền thống dân tộc và có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực này, anh thấy âm nhạc truyền thống dân tộc hiện nay ra sao?

+ Mỗi thời mỗi khác, ngày xưa ông cha ta thưởng thức là nhạc cổ truyền, còn ngày nay trải qua một thời kì dài phát triển hiện đại hóa thì tâm thức con người thay đổi, thẩm mỹ con người cũng thay đổi, người ta có nhiều sự lựa chọn hơn. Trải qua nửa cuối thế kỉ 20, chúng ta đã bị đứt đoạn thưởng thức âm nhạc truyền thống. Sau năm 1954, người ta cho rằng những giá trị cổ đó không phù hợp với thời đại, người ta lấy triết lý thời đại mới thì phải có những giá trị nghệ thuật mới. Người ta giương cao ngọn cờ xây dựng một nền chèo, tuồng mới.

Bây giờ chúng ta nhìn lại thì thật hài hước buồn cười, với tâm thức đó thì người ta bỏ hết hơn 50 vở chèo cổ của các nghệ nhân tứ chiếng xung quanh Thăng Long ngày xưa (ở quanh Hà Nội hình thành 4 chiếng chèo người ta gọi là tứ chiếng Đông, Tây, Nam, Bắc), mà mỗi một vùng có giá trị đặc sắc riêng. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, nghệ nhân gạo cội thì chúng ta có khoảng hơn 50 vở chèo cổ, nhưng vì chúng ta không lưu trữ hết, chúng ta mất rất nhiều, hiện nay chỉ còn lại dăm ba vở chèo cổ.

 Giai đoạn này Việt Nam sinh ra một thứ âm nhạc dân tộc gọi là âm nhạc dân tộc cải biên, tức là trên cơ sở hiện đại hóa các di sản của cha ông thì người ta cải biên hết, cải biên từ nhạc cụ cho đến âm nhạc. Thế nên chúng ta thấy quan họ có nhạc đệm sập xình, chúng ta sẽ thấy các sáng tác chèo mới gọi là cải biên. Sau năm 1954, miền Bắc xây dựng Chủ nghĩa xã hội, Nhạc viện Hà Nội (Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) thành lập, tại đây học sinh được học sáng tác những tác phẩm mới cho nhạc cụ dân tộc, phím đàn và tất cả các hệ âm sáng tác theo nguyên lý của nhạc châu Âu và chỉ dựa theo xu hướng nhạc dân tộc. Chúng tôi gọi đấy là nhạc dân tộc cải biên để phân biệt rõ giá trị di sản với nhạc dân tộc cổ truyền. Cho đến giờ những cái đấy đều là truyền thống, một cái là truyền thống cũ thì gọi là cổ truyền, một cái mới thì gọi là âm nhạc dân tộc cải biên.

Lớp trẻ nửa cuối thế kỉ 20 rất ít cơ hội tiếp xúc với giá trị âm nhạc cổ truyền mà chủ yếu là nghe âm nhạc dân tộc cải biên, những gì còn lại là cổ truyền thì chúng ta chỉ nghe được trên làn sóng đài phát thanh hay truyền hình thi thoảng mới có.

- Vậy là đa phần những thứ chúng ta đang nghe âm nhạc dân tộc mà ta tưởng là cổ truyền thì thực chất nó được gọi là âm nhạc dân tộc cải biên. Ngay kể cả các bạn trẻ học trong trường lớp Khoa kịch hát dân tộc hay nhạc cụ dân tộc cũng là âm nhạc dân tộc cải biên? Vậy âm nhạc cổ truyền dân tộc đang hiện hữu ở đâu?

+ Đúng vậy, trong nhạc viện, trong trường đại học nghệ thuật có một số bài chèo, một số bài ca Huế, một số bài cải lương thì người ta kí âm ra thành nốt nhạc, xong người ta từ năm này qua năm khác, hàng chục năm vẫn đánh một bài chèo, cải lương như thế, đánh nghìn lần như một. Trong khi các nghệ nhân dân gian một bài như thế người ta đánh một nghìn lần khác nhau cả một nghìn lần. Nghệ nhân có khả năng ngẫu hứng sáng tạo, đấy là đặc biệt của nhạc cổ truyền Việt Nam. Còn ở nhạc viện, các bạn ấy đánh nhạc thì chỉ được gọi là nhạc công. Những nhạc công chủ yếu đánh âm nhạc dân tộc cải biên và sau đó về các đoàn âm nhạc dân tộc tồn tại cho đến tận bây giờ. Cho nên cơ hội tiếp xúc thưởng thức, lưu truyền những giá trị cổ truyền đích thực thì còn rất ít, chỉ còn co lại trong nhóm những nghệ nhân.

Bản thân tôi là người nghiên cứu, tôi cũng đi chắp nhặt từng mảnh vỡ, cố gắng xếp lại để tìm hiểu, để nghiên cứu về cha ông. Nhạc cổ truyền không tồn tại trên văn bản mà sống cùng với đời sống của người nghệ nhân và biết rằng có nhiều tác phẩm cổ truyền tinh hoa vĩnh viễn ra đi theo cái chết của lớp nghệ nhân già cuối cùng. Nghệ nhân còn biểu diễn còn lưu truyền, còn dậy cho học trò thì giá trị đó còn, nhưng nếu người nghệ nhân đấy dậy không có ai học, người nghệ nhân đó chết đi thì giá trị của nhạc dân tộc vĩnh viễn ra đi theo cái chết của họ, đấy là điều rất đau xót.

- Để sinh tồn cần phải có nhiều cách, ví dụ như kết hợp âm nhạc với du lịch thì nhiều nơi vẫn đang làm: ban đêm đi nghe ca Huế trên sông Hương, hay về Bắc Ninh nghe Quan họ, hoặc những nơi chợ đêm bao giờ cũng có mặt của những làn điệu quê hương: ca trù, xẩm, chèo… Như thế cũng tốt đúng không, vì ít ra người ta còn công nhận sự hiện hữu của các loại hình dân tộc này. Và nó còn có đất để sống, vừa bảo tồn và người nghệ sĩ cũng thêm được chút ít thu nhập, anh thấy đúng không?

+ Vấn đề quảng bá du lịch giới thiệu sản phẩm của mình còn quá kém, hiện nay trên địa bàn Hà Nội chỉ có Nhà hát Múa rối nước là mạnh. Chúng ta chưa làm được với những giá trị âm nhạc cổ truyền khác, một số âm nhạc dân tộc thả nổi trên phố cổ khá lay lắt như ca trù một thời gian xong vắng khách rồi thôi, còn lại mấy chiếu xẩm hay hát chèo, hát văn…. Chúng ta có rất nhiều giá trị tinh hoa để có thể làm được du lịch, một mặt cũng nhìn nhận khi du lịch hóa thì sản phẩm âm nhạc cổ truyền đó dần dần cũng bị biến tướng, bóp méo rất nhiều. Hát văn là nhạc nghi lễ dâng Thánh hầu đồng, môi trường ở trong đền phủ thì cũng bầy ra vỉa hè để câu khách. Mọi thứ khá lộn xộn manh mún, chưa thành một hệ thống quy chuẩn. Hay ngoài vỉa hè dựng cái rạp thì cũng chỉ diễn được một trích đoạn chèo thôi. Đại khái sẽ mỗi thứ một tí mà đúng ra là phục vụ du lịch chứ nghệ thuật đích thực thì khác. Xây dựng Nhà hát để thu hút khách đến với các Nhà hát là một bài toán mà mấy chục năm nay giải chưa ra được.

Tôi đến các Nhà hát thấy nhiệm vụ của Nhà nước giao mỗi Nhà hát hằng năm là phải dựng vở mới. Anh em nghệ sĩ trong Nhà hát cố gắng đôn đáo tìm, dựng vở mới để đủ tiêu chuẩn chứ họ không có nhiệm vụ dựng lại toàn bộ di sản của ông cha. Và thực sự cho đến giờ phút này, cho tiền họ cũng khó có thể dựng lại được. Giá trị cổ truyền đích thực của chúng ta mất quá nhiều rồi. Cả cuộc đời tôi cho đến giờ hơn 30 năm làm nghiên cứu về âm nhạc dân tộc cổ truyền, bản thân tôi cũng chỉ được xem trích đoạn tuồng cổ chứ chưa bao giờ được xem một vở tuồng cổ hoàn chỉnh. Giương cao ngọn cờ hiện đại hóa, khoa học hóa, âm nhạc của cha ông cải biên cải tiến dần dần, các giá trị cổ truyền mai một, tan vỡ rất nhiều và ngày nay đến đầu thế kỷ 21, khi người ta muốn phục hồi lại, người ta muốn tìm về giá trị đích thực là rất khó.

Trần Mỹ Hiền (thực hiện)

Các tin khác

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Vừa lên sóng những tập đầu tiên, bộ phim truyền hình “Lửa trắng” đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Từ việc khai thác cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy trong thời đại số, bộ phim khắc họa chân dung người chiến sĩ CAND với sự dũng cảm, bản lĩnh và trí tuệ cùng những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.

Họa sĩ Nguyễn Trường Linh Khúc lãng du trong cõi mộng tàn thu

Họa sĩ Nguyễn Trường Linh Khúc lãng du trong cõi mộng tàn thu

Gặp họa sĩ Nguyễn Trường Linh tại xưởng vẽ ở phố Tân Mai, Hoàng Mai, Hà Nội, tôi bất ngờ khi thấy anh thẫn thờ ngồi trước tác phẩm "Thương nhớ đồng quê". Tôi lặng lẽ ngồi kế bên ngắm hình những tàu lá chuối bị rách tả tơi vì mưa gió. Những viền vàng trên cây lá gợi nỗi buồn tàn úa man mác.

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà vào Hội Nhà văn Việt Nam cùng năm với tôi. Hôm đấy, chúng tôi hẹn nhau ra Hà Nội trong một sáng cuối đông. Chuyến đi ngắn ngày nhưng đầy kỉ niệm. Buổi tối, chúng tôi lang thang cùng nhau ở Hà Nội, nói về văn chương và hành trình viết lách của nhau. Hóa ra cô gái đến từ núi đồi Gia Nghĩa (thuộc Đắk-Nông cũ) này khá đa năng với rất nhiều thể loại, và gặt hái nhiều thành công từ rất sớm.

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Theo nhánh tẻ của sông Đa Nhim, dưới chân núi Pnum Trom Ủ (thuộc xã Quảng Lập, tỉnh Lâm Đồng) có plei (buôn) Krănggọ nổi tiếng với nghề làm gốm mộc của người Churu. Theo lý giải của những người già, “Krăng” là tên ông chủ đất khi xưa, “gọ” chỉ cái nồi đất. Tên buôn làng từ thuở xa xưa đã gắn với nghề gốm.

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Tại World Cup 2026, âm nhạc lần đầu tiên trở thành tiếng nói quan trọng, song hành cùng thể thao như ngôn ngữ chung để truyền tải thông điệp đặc biệt về tinh thần đoàn kết, sự cống hiến không ngừng và tôn vinh nhiều nền văn hóa đa dạng. Điều đó đã được phản ánh qua một bộ sưu tập nhạc nền đồ sộ cùng tham vọng biến sự kiện “thể thao vua” trở thành sân khấu giải trí hàng đầu thế giới.

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực Tương lai” của Việt Nam

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực tương lai” của Việt Nam

Tại Future Menus 2026, đơn vị tổ chức đã giới thiệu bốn xu hướng được dự báo sẽ dẫn đầu thị trường ẩm thực toàn cầu trong thời gian tới. Đó là những xu hướng gợi mở giúp ngành ẩm thực Việt Nam phát triển. Bởi ẩm thực là một kênh hữu hiệu để thu hút du lịch và quảng bá văn hóa Việt ra thế giới.

Chinh phục những địa hạt mới

Chinh phục những địa hạt mới

Vừa qua, bộ phim “Ốc mượn hồn” đã có màn ra mắt ấn tượng với khán giả cả nước. Không chỉ mang đến cho khán giả trải nghiệm điện ảnh mới mẻ, bộ phim còn là dấu ấn mới trên hành trình làm nghệ thuật của đạo diễn Đinh Tuấn Vũ, sau 7 năm xa màn ảnh rộng.

Gomshow có những suất diễn định kỳ tại Hà Nội là nỗ lực của cả ê kíp.

Từ vở ballet “Gat” đến câu chuyện phát triển công nghiệp văn hóa

Những chuyển động ballet đương đại hòa cùng hình ảnh chiếc mũ Gat truyền thống của Hàn Quốc trên sân khấu Nhà hát Hồ Gươm trong chương trình “Mùa Hàn Quốc 2026” gợi cho chúng ta, những khán giả Việt Nam, nhiều suy ngẫm. Đó không chỉ là một đêm diễn nghệ thuật mà là một lát cắt cho thấy cách Hàn Quốc đang kể câu chuyện văn hóa của mình với thế giới - bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại, mới mẻ, mang tính toàn cầu.

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

Nhà văn - dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng trong nhiều bài viết và những cuộc đàm luận sâu về chủ đề lạm dụng AI trong viết sáng tạo, ông đã cảnh báo việc lạm dụng AI trong sáng tác là hành vi tự hủy hoại sự sáng tạo của người viết, đồng thời đặt ra vấn đề trách nhiệm của tác giả, biên tập và các thiết chế văn học trước làn sóng “chữ nghĩa AI” đang lan rộng. Nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh cũng có nhiều ý kiến sâu sắc về vấn nạn sáng tạo văn chương lạm dụng AI. Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện ngắn với nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng và nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh về chủ đề này.