Điện ảnh Việt: Có cần bắt chước để hội nhập quốc tế?

Một trong những điều nổi cộm nhất hiện nay của điện ảnh Việt là phong trào làm lại các bộ phim nước ngoài. Bên cạnh việc dùng lại kịch bản ngoại, nhiều đạo diễn cũng không ngần ngại làm phim hoàn toàn bắt chước phong cách Tây, mà tiêu biểu nhất là bộ phim "Em chưa 18" doanh thu khá cao và được xưng tụng khá tự hào "phim Mỹ nói tiếng Việt". Phải chăng, trong xu hướng hội nhập, nghệ thuật thứ bảy không còn con đường nào khác để khẳng định mình? 

Thực tế, rất nhiều bộ phim thuần Việt của đạo diễn trong nước hoặc đạo diễn Việt kiều, đã được quốc tế đánh giá rất cao!

Năm 2008, bộ phim "Bao giờ cho đến tháng Mười" của đạo diễn Đặng Nhật Minh được kênh truyền hình nổi tiếng thế giới CNN xếp vào danh sách "18 bộ phim châu Á kinh điển" với đánh giá làm nức lòng những người yêu điện ảnh nước nhà, rằng "bộ phim vẽ nên một bức tranh sống động kể lại cảm nhận của một góa phụ trẻ tuổi về những di sản trong chiến tranh Việt Nam". Sự vinh danh ấy rõ ràng có thể tự tin cảnh sắc Việt, tâm hồn Việt đã có cơ hội thăng hoa trên màn ảnh quốc tế.

Dù trong danh sách 18 phim châu Á được tôn vinh, chúng ta chỉ có một đại diện duy nhất là "Bao giờ cho đến tháng Mười", xếp sau Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand nhưng cũng đủ để nền nghệ thuật thứ bảy Việt Nam phập phồng phác thảo một tương lai hòa nhập cùng sự phát triển của nền điện ảnh thế giới. Kịch bản "Bao giờ cho đến tháng Mười" được đạo diễn Đặng Nhật Minh viết xong vào mùa thu năm 1983, và một năm sau được Xưởng phim truyện Việt Nam sản xuất.

"Bao giờ cho đến tháng Mười" đoạt Bông Sen Vàng tại Liên hoan phim toàn quốc năm 1985, sau đó tiếp tục tiếp tục được trao giải thưởng của Ban giám khảo Liên hoan phim quốc tế Hawai năm 1985. Bên cạnh nỗi khắc khoải của người vợ mất chồng vì chiến tranh, vẻ đẹp của "Bao giờ cho đến tháng Mười" lấp lánh ở những đêm hát bội, những buổi làm đồng, những phiên chợ âm dương. Chính những góc quay thú vị đó giúp người nước ngoài dù chưa một lần đặt chân đến Việt Nam cũng có thể hiểu thêm con người và đất nước Việt Nam.

Poster phim "Mùa len trâu".
Poster phim "Mùa len trâu".

Nghệ thuật điện ảnh luôn hội tụ những bộ môn nghệ thuật khác như văn học, hội họa, nhiếp ảnh…Cho nên mỗi bộ phim luôn chứng minh bản lĩnh và bản sắc của một quốc gia. Chúng ta còn nghèo, chưa thể nghĩ đến những bộ phim "bom tấn" như Hollywood, nên chỉ còn con đường chinh phục quốc tế bằng nền văn hóa mang đậm phong thái Á Đông.

Ở đây cần phải nói đến vai trò xã hội hóa điện ảnh. Khi những nhà làm phim trong nước được sự hợp tác của những nhà làm phim Việt kiều thì màn ảnh của chúng ta có thể nhiều điều kiện để có những bộ phim đẳng cấp quốc tế! Có lẽ từ một sự tính toán riêng, các nhà làm phim gần đây hơi chú trọng những cảnh nhà lầu, xe hơi, váy ngắn, môi son… khiến cho hình ảnh nông thôn bỗng dưng ngủ quên trên màn ảnh. Hình như chúng ta quên mất rằng, sự nồng nàn của cảnh sắc Việt Nam mới đủ sức làm nên những tác phẩm điện ảnh vượt ra khỏi biên giới quốc gia.

Sau khi đất nước đổi mới, bộ phim Việt đầu tiên có sức vang ở nước ngoài là "Mùi đu đủ xanh" của đạo diễn Trần Anh Hùng. Tạo dựng phim trường tại Paris, nhưng các cảnh sắc Việt Nam được thể hiện thật quyến rũ trong "Mùi đu đủ xanh".

Nhìn hình ảnh cận cảnh của đạo diễn Trần Anh Hùng đã giúp "Mùi đu đủ xanh" có mặt tại nhiều liên hoan phim quốc tế. Và chúng ta không thể nói khác hơn rằng, chính "vẻ đẹp tiềm ẩn" không lẫn vào đâu được của Việt Nam khi khai thác hiệu quả đã mang lại giải thưởng Camera Vàng cho "Mùi đu đủ xanh" tại Liên hoan phim Cannes năm 1993 và được đề cử giải Phim nước ngoài hay nhất tại giải Oscar năm 1993. Sau thành công của "Mùi đu đủ xanh", hai bộ phim tiếp theo của đạo diễn Trần Anh Hùng là "Xích lô" và "Mùa hè chiều thẳng đứng" cũng tập trung miêu tả hồn Việt lung linh và đều được tán thưởng khắp nơi. Riêng bộ phim "Xích lộ" đã đoạt giải Sư Tử Vàng tại Liên hoan phim Venezia vào năm 1995..

Một bộ phim khác chứng minh đẳng cấp quốc tế của phim Việt là "Ba mùa" của đạo diễn Tony Bùi. Lấy bối cảnh chính tại TP Hồ Chí Minh, "Ba mùa" phản ánh đời sống người Việt trong kinh tế thị trường với những mảnh đời xô dạt, nhưng vẫn thấy được nét nhuần nhị và đôn hậu của bao con người đôn hậu. Những nhà làm phim chứng minh ở đô thị sầm uất nhất của Việt Nam có ba mùa: mùa nắng, mùa mưa và mùa hy vọng.

Người xem "Ba mùa" không thể nào quên được giữa chộn rộn bán mua, gánh hoa sen của cô gái nghèo đi qua như một vùng sáng lung linh bất tận. Không thể nói khác hơn, những đóa sen trong "Ba mùa" làm dịu lại cái nắng Sài Gòn, làm ấm lên cơn mưa Sài Gòn và biểu thị sự lương thiện vẫn nảy mầm, vẫn tỏa hương ngay cả khi chen lấn giành giật mưu sinh. Chính vẻ đẹp thuần Việt đã giúp "Ba mùa" nhận được giải thưởng tại Liên hoan phim Sundance năm 1999.

Tất nhiên, bất cứ giải thưởng nào cũng chỉ mang tính tương đối. Điều đáng quan tâm nhất là những bộ phim càng gần đẳng cấp quốc tế thì càng khẳng định được sức sống của văn hóa Việt Nam. Trước đây chúng ta vẫn than phiền về túi tiền eo hẹp, thì giờ đây người Việt đã đủ khả năng bỏ ra hàng triệu đô la Mỹ để làm phim. Hai bộ phim "Dòng máu anh hùng" và "Áo lụa Hà Đông" thu hút hàng ngàn lượt xem nhờ đầu tư thỏa đáng cho dàn dựng công phu.

Poster phim "Mùi đu đủ xanh".
Poster phim "Mùi đu đủ xanh".

"Dòng máu anh hùng" phô diễn những pha võ thuật đẹp mắt, còn "Áo lụa Hà Đông" ca ngợi chiếc áo dài truyền thống. Đáng tiếc là dù qui tụ nhiều gương mặt diễn viên nổi tiếng, nhưng đạo diễn "Dòng máu anh hùng" và "Áo lụa Hà Đông" hơi non tay nên nhiều trường đoạn dông dài phá vỡ cảm xúc người xem, khiến giá trị thẩm mỹ tạm dừng ở mức độ nhất định. Thế nhưng, những hình ảnh thuyết phục nhất của hai bộ phim này đều nằm ở những bối cảnh đồng quê, với cảnh đoàn tàu băng qua triền đồi trong "Dòng máu anh hùng" và dòng sông nhạt nhòa mưa lũ trong "Áo lụa Hà Đông".

Để tiếp tục thể hiện vị trí Việt Nam trên bản đồ nghệ thuật thứ bảy thế giới, cần nhiều nỗ lực cụ thể hơn nữa của những nhà quản lý văn hóa và những nghệ sĩ điện ảnh. Tuy nhiên, có hai nhược điểm dễ thấy ở các bộ phim Việt Nam bước đầu có thể tiếp cận quốc tế là lời thoại và đoạn kết. Phim của chúng ta hơi nhiều lời, và có khi lời thoại rời rạc thiếu chắc lọc đã làm loãng không khí bộ phim.

Điện ảnh khác kịch nói khi phát huy được sức mạnh ngôn ngữ đặc thù. Quá nhiều tình huống trên phim Việt cứ muốn giải quyết bằng lời thoại, thay vì bằng âm nhạc, hay sự chuyển động của camera. Còn về cái kết, thì thật đáng băn khoăn. Hầu như các bộ phim Việt chỉ để kết cho có…cái kết mà thôi. Ngay cả bộ phim tương đối thành công là "Mùa len trâu" của đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh cũng vậy. Ở "Mùa len trâu" có những chi tiết đắt giá mang ấn tượng điện ảnh, nhưng cái kết chưa tương xứng với nhịp điệu bộ phim.

"Mùa len trâu" khép lại hồi ức về câu chuyên vùng sông nước Cà Mau bằng lời thoại khá mông lung. Với thiện chí sánh vai với bè bạn năm châu, cũng dùng lối hồi ức thì lời thoại kết phim của "Mùa len trâu" khi so sánh với lời thoại kết phim của "Hồi ức một geisha" thì quả là một trời một vực. Cái kết phim dẫu mấy câu cũng phải nói được cái đau đáu một số phận, hoặc cái thao thức một thời cuộc, hoặc cái trắc ẩn kiếp nhân sinh. Nếu ví von, thì cái kết của phim Việt chỉ là tiếng kêu rất nhỏ của cánh cửa khép hờ, còn cái kết của những bộ phim quốc tế từng làm chúng ta rúng động là âm thanh tách cách của cái khóa!

Từ phiên chợ âm dương trong "Bao giờ cho đến tháng Mười" cho đến gánh hoa sen trong "Ba mùa" hay đàn trâu bì bõm lội nước trong "Mùa len trâu" đã ít nhiều giúp hồn Việt thăng hoa trên màn ảnh quốc tế. Thế mạnh của điện ảnh Việt Nam là chiều sâu văn hóa của cảnh sắc và con người Việt Nam. Khi và chỉ khi chúng ta khai thác triệt để yếu tố này mới có được những bộ phim đẳng cấp quốc tế! Đó là sự thật đáng suy nghĩ, đáng trân trọng và đáng nâng niu! Điện ảnh Việt không cần thiết phải bắt chước một cách thô thiển để hội nhập toàn cầu!

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).