Điềm triệu - thực tế và văn chương

Trong Kinh "Tăng Chi Bộ" kể đêm trước ngày thành đạo, dưới gốc Bồ-đề, Thái tử Tất Đạt nằm mộng thấy năm chuyện lạ. Về sau Đức Phật giải thích đó là điềm báo trước những gì xảy ra sau đó.

"Tam quốc diễn nghĩa" (hồi 97) kể một hôm Khổng Minh mở tiệc thết đãi các tướng bàn ngày xuất quân. Bỗng một cơn gió từ Tây Bắc thổi tới làm đổ một cây thông cổ thụ ở giữa sân. Khổng Minh thất sắc "bấm một quẻ độn" và nói "Trận gió này báo điềm mất một Đại tướng". Các tướng không tin. Lúc cuộc rượu đương vui có tin báo hai con Triệu Vân đến xin gặp. Khổng Minh quẳng chén rượu và nói: "Tử Long hỏng rồi!". Quả thật, Triệu Tử Long vừa chết hồi đêm!

Không chỉ ở "Tam quốc", mà hầu như tiểu thuyết cổ điển phương Đông nào cũng đều sử dụng "điềm triệu" (còn gọi là điềm báo), coi đấy như một thủ pháp nghệ thuật. Những chi tiết ấy gây cho người đọc sự tò mò, hồi hộp, chờ đợi thực tế có đúng như thế không, chưa đọc hết muốn đọc ngay, đọc xong cứ như bị ám ảnh phải chăng có một lực lượng siêu nhiên hay ma thuật nào đó giúp được con người.

Nhân vật Thúy Kiều (Truyện Kiều) trong cơn mê gặp Đạm Tiên và được báo trước những tai ương trong đời sau này. Lý luận văn học gọi đấy là "hiệu ứng lạ hoá". Không cứ truyện truyền kỳ ngày trước, mà thời hiện đại, các nhà văn cũng thường hay sử dụng, được khái quát gọi là "khuynh hướng tâm linh". Bạn đọc cũng thích đọc những truyện kiểu này, được theo dõi những sự kiện trôi chảy giữa hai bờ hư thực thì thấy hấp dẫn hơn là những gì như có thật ngoài đời, đã khô còn nhạt.

Giấc mơ thứ 2 Bồ Tát mơ thấy cây cỏ màu đỏ mọc lên từ rốn, cao dần rồi chọc đến trời.
Giấc mơ thứ 2 Bồ Tát mơ thấy cây cỏ màu đỏ mọc lên từ rốn, cao dần rồi chọc đến trời.

Cũng phù hợp với tâm lý độc giả: ai cũng có lúc gặp khó khăn, lúc ấy ước ao có một thần thánh nào đó "phù trợ" nên cứ mơ tưởng vào những chuyện đâu đâu. Khi ngủ ai cũng mơ, tỉnh dậy cứ băn khoăn đấy là "điềm" gì… Tin vào "điềm báo" nhất là những người "chơi đề" và họ "giải mã" điềm báo theo cách của… họ. Có người "chơi" theo "ý chỉ" của giấc mơ, "đầu" thế này, "đít" thế nọ. Có người "đánh" theo số biển xe của khách ngẫu nhiên đến nhà…

Nhưng đó là thực tế có trong đời sống. Có người làm nghề lái xe, sáng ra đi làm gặp người phụ nữ chửa liền quay về, mươi phút sau mới đi lại. Ở nhà quê đi việc quan trọng còn phải "đón vía". Đi đường gặp con rắn trong bụng mừng thầm sẽ gặp may… Những cái đó cho thấy dù sống ở thời hiện đại, người ta vẫn tin vào "điềm triệu" đã có từ hàng ngàn năm.

Bài viết không đi vào bản chất khoa học hay không khoa học của vấn đề, mà chỉ xin lý giải dưới góc độ nghệ thuật. Nhưng cũng xin hé mở cách giải thích của khoa học hiện đại, ví như chuyện gặp phụ nữ chửa không may là có lý. Mỗi người đều có "trường sinh học", còn gọi là "hào quang" (có thể hiểu là "vía", mỗi người "vía" dữ/lành khác nhau), cũng "hút, đẩy" nhau như điện trường nhưng theo quy luật riêng. Có người vừa nhìn thấy nhau đã ghét/yêu là do "trường sinh học" cùng hay khác "dấu"… (Tình yêu sét đánh là có thật!). Vì cơ thể mang thêm một sinh thể mới, một sinh mệnh mới nên phụ nữ có thai, theo lẽ tự nhiên có "trường sinh học" đặc biệt. Không chỉ khó khăn về sinh lý, mà còn khó chịu về tâm lý, hay cáu gắt, mệt mỏi, căng thẳng… Có người thích ăn những đồ rất lạ. Thế nên người chồng nào có vợ chửa phải biết yêu chiều vợ hơn.

Trong "Kinh Dịch", dương ứng số lẻ là một nét liền, âm ứng số chẵn là một nét gẫy (hai vạch ngắn liền nhau) là có ý nói phụ nữ tuy một mà hai, từ một chia hai, thánh thiện nhưng cũng rất... "phức tạp".

Người bình thường tiếp xúc "hào quang" của người phụ nữ chửa khó có cảm nhận nhưng "trường sinh học" của người lái xe nhạy cảm hơn sẽ chịu "ảnh hưởng". Hiểu theo triết lý âm dương thì anh ta "lơ lửng" không tiếp âm cũng chẳng toàn dương (vì ngồi trên xe, không tiếp đất) nên độ an toàn không cao. Nếu "bị nhiễm" "vía" không tốt tất ảnh hưởng sức khỏe, tâm trí… Do vậy làm nghề lái tàu xe, máy bay, vũ trụ thì sức khỏe, nhất là sức khỏe thần kinh phải tốt. Những người làm nghề này hay "kiêng", nghề đi biển càng kiêng kỹ...

Ngày nay khoa học sinh học giải thích một số môn phái cổ truyền phương Đông và đạo Phật chủ trương đi chân đất đầu trần là khoa học, vừa tiếp âm, vừa đón khí dương. Anh hùng Asin trong thần thoại Hy Lạp vì bay lên trời nên vừa không được Mẹ Đất tiếp thêm sức mạnh, vừa để lộ điểm yếu chí tử mà bị chết oan.

Các cụ ta lại hay nói "Có thờ có thiêng, có kiêng có lành" là có hạt nhân hợp lý. Thời trẻ người viết bài này từng đi đánh trận cũng phải học kỹ phép kiêng kỵ như cơm sống thì ăn cơm khê không ăn... Có giấc mơ gì lạ (kiểu như "sinh dữ tử lành") phải báo ngay cho tiểu đội trưởng... Những điều ấy thuộc về điềm báo. Trong đánh nhau, giáp mặt với cái chết nên linh giác (linh tính/giác quan thứ sáu) con người thường rất nhạy bén. Có trường hợp bạn bè và chính bản thân dự đoán gần như chính xác sự kiện sắp đến qua "điềm báo"... Lại xin kể vào dịp khác.

Đặc trưng của "điềm báo" so với tiên tri, bói toán, cầu mộng, tướng số, tử vi... là tính chất ngẫu nhiên, tự phát, không qua thỉnh cầu/cầu xin (thần thánh/ma quỷ). Nó xuất hiện thông qua các hiện tượng tự nhiên và chính con người. Thế nên "giải mã" nó phải căn cứ vào không thời gian và hoàn cảnh cụ thể. Như đi đường gặp rắn là tốt nhưng ở nhà gặp rắn thì rõ ràng nguy hiểm, nên "rắn đến nhà chẳng đánh thì quái" (rắn đến nhà không đánh là điều quái lạ). Còn phải căn cứ vào tín ngưỡng vùng miền, dân tộc...

Ở nông thôn miền Bắc nước ta có cụ già đêm nghe tiếng chim lợn kêu ở phía nào là có thể đoán ngay cụ già nào vừa về với tiên tổ. Nhưng ở nước khác thì tiếng chim lợn báo lại là chuyện vui... Nhưng cũng có điểm chung như con mèo đen đều là điềm báo không may ở hầu hết các nước. Nhưng ở Trung Hoa xưa thì mèo lại là điềm báo lành. 

Ngày nay ở Campuchia, con mèo được coi làsứ giả nhà trời nên được đưa vào lồng rước đi khắp nơi để cầu mưa. Người ta tưới nước vào để nó kêu to thấu đến thần mưa Indra. Ở ta thì ai cũng biết câu: "Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì giàu", xét dưới góc độ "trường sinh học" thì lại có lý.

Con chim khách.
Con chim khách.

Ngày trước, cuộc sống khép kín nên nhà có khách là việc "đại sự". Việc này có con chim khách làm nhiệm vụ bay đến đậu cây trước nhà cất tiếng kêu. Sáng chim kêu thì chiều nhà có thư hoặc điện. Viết về chuyện này, nhà văn Nguyễn Kiên có một truyện ngắn trong tập "Chim khách kêu" (2000) có ý nghĩa khá thú vị: tiếng chim khách kêu hay là báo một sự đổi thay, báo một điều mới lạ, một niềm vui sắp đến...

Trong văn hóa cổ xưa thì điềm báo dựa vào trạng thái tự nhiên là phổ biến nhất. Dĩ nhiên phải là những trạng thái lạ. Càng lạ càng hấp dẫn vì "đánh" vào thói hiếu kỳ của người đọc. Những điềm này thường ứng với các sự kiện lịch sử. "Hoàng Lê nhất thống chí" kể ngày, rằm tháng Giêng năm Nhâm Dần (1782), trong cung bỗng có một tiếng rất to dài đến hơn một khắc. Năm Quý Mão (1783), núi vua Hùng sụt xuống hơn hai chục thước, con sông Thiên Đức cạn hẳn một ngày một đêm. Năm Giáp Thìn (1784), giữa một đêm tháng mười, hồ Thủy Quân thình lình có tiếng phát ra như sấm, nước sủi lên như chảo đun... Đấy là điềm báo về "đại loạn".

Loại điềm báo thứ hai là động thực vật. Dĩ nhiên cũng phải lạ. "Vũ trung tùy bút" kể ở làng Cổ Bi có cây gạo không mấy khi nở hoa nhưng mỗi khi nở thì sẽ có người thi đỗ. "Việt sử lược" kể có cây đa tự mọc ra cái rễ quấn vòng quanh thân báo hiệu có người đỗ đại khoa... "Hoàng Lê nhất thống chí" kể trước khi ra trận,  hiên có bầy ong ở đâu tự dưng bâu lại đốt vào cổ Nguyễn Hữu Chỉnh, quả nhiên rận ấy Chỉnh thua to. Có con quạ khoang bay xuống trước sân nhìn Trịnh Tông hai ba lần như muốn mổ, lính hầu phải xua giáo đuổi đi ứng với việc Trịnh Tông bị hạ bệ...

Loại điềm báo thứ ba là giấc mơ. "Việt điện u linh" kể mẹ Lý Thánh Tông nằm mơ thấy mặt trăng đi vào bụng sau đó có mang mà sinh ra nhà vua. Cũng ở tập này kể nếu ai mơ thấy rắn là sinh con gái, thấy gấu là sinh con trai, mơ thấy rồng, ngọc, mặt trời là điềm sinh con quí tử...

Không xem xét đó là chuyện mê tín hay không, nhìn dưới góc độ hình thức nghệ thuật thì có thể coi điềm báo như là một thủ pháp đặc sắc. Hôm nay cứ khái quát "thi pháp huyền thoại", "huyền ảo", "siêu thực"... cho có vẻ mới, nhưng với văn học trung đại của ta thì nó đã cũ!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).