Để có tiếng cười...

Nói đến cái hài là nói đến tiếng cười nhưng không phải là một, đúng hơn, chúng thống nhất nhưng không đồng nhất. Tiếng cười luôn có mặt trong cái hài, trong mối quan hệ chủ thể khách thể của quan hệ thẩm mỹ, cái hài là khách quan thì tiếng cười gắn liền với chủ thể.

Là kết quả của cái hài, tiếng cười bao giờ cũng vang lên từ một chủ thể nào đó hướng về phía khách quan là cái xấu, cái đáng chê. Thế nên mỹ học rất đề cao tiếng cười, coi đó là một dấu hiệu rõ nhất của tính người, "là vũ khí của người mạnh". Là mỹ học của cái hài, nhưng tiếng cười còn là mỹ học của cái đẹp, vì cười cái xấu để con người tránh xa nó để hướng đến cái đẹp, cái tốt, cái tích cực. Đào hố chôn cái xấu là một bước chuẩn bị cho cái đẹp sinh thành. Tiếng cười là mỹ học lưỡng tính hay mỹ học phổ quát, ngày nay gọi là "mỹ học nhân bản" là như vậy. Một nền văn học thiếu vắng tiếng cười là nền văn học thiếu sinh khí!

Để có tiếng cười... -0
Hề chèo - Tranh Bùi Xuân Phái.

Cái hài là cơ sở tạo nên tiếng cười nên tìm hiểu, nghiên cứu hay kiến tạo tiếng cười thường trước hết phải chú ý đến đối tượng gây cười mang tính hài. Đó là những khuyết tật xấu xí, hèn kém, dối trá, ác độc, tham lam... Không phải cái xấu nào cũng đều tạo nên tiếng cười, mà chỉ có cái xấu về mặt xã hội mới tạo ra tiếng cười.

Cười một người không may bị ngã, thì là cái cười vô duyên, phản cảm. Nếu cố tạo nên tiếng cười từ sự khuyết tật bẩm sinh thì là biểu hiện của sự kém hiểu biết về mỹ học, không có sự đồng cảm, là sự nhạo báng vô đạo đức vì là cười trên sự đau khổ của người khác. Nếu khoét vào những cái vặt vãnh, đời thường, vào cái thông tục, cái không bản chất sẽ chỉ cho tiếng cười rẻ tiền…

Nhưng cũng nhìn rộng rãi hơn thì tiếng cười có ngay trong cái mới, tiến bộ khi nó tự mang trong mình cái cũ chưa gột bỏ hết, còn những cái chưa hoàn thiện. Trường hợp này tạo ra tiếng cười hài hước, đáng yêu như em bé vụng về mà hồn nhiên bắt chước người lớn hay nhà bác học đãng trí có vẻ ngoài ngô nghê…

Bản thân những cái xấu vẫn chưa phải cái hài. Xấu nhưng không đành phận xấu, lại đội lốt cái đẹp, tự cho mình là đẹp thì mới là cái hài. Phải có tiếng cười của nhà trào phúng lột, rồi giật phăng cái mặt nạ giả dối để làm trơ ra sự thật thảm hại của cái xấu ấy. Vì thế bản chất cái hài là sự mâu thuẫn giữa các mặt đối lập, giữa nội dung và hình thức, giữa đạo đức và phi đạo đức, giữa hèn kém và cao thượng, giữa dốt nát ngu đần và trí tuệ hiền minh…

Những mâu thuẫn này càng căng thẳng càng tạo ra sự bất ngờ (kịch tính) thì càng tạo nên cường độ mạnh mẽ của tiếng cười. Điều này lại dẫn đến vai trò quyết định của chủ thể cười, tức nhà trào phúng, phải trí tuệ để nhìn thấy những mâu thuẫn hài; phải có sự phẫn nộ của lý trí muốn đòi lại lẽ phải, sự công bằng; phải có trái tim đầy yêu thương con người, căm thù cái xấu bênh vực cái tốt; phải có năng khiếu trời phú, có tài năng mỹ học về cái hài biết đẩy mâu thuẫn đến cái đích bất ngờ;…

Vì vậy cảm xúc hài kịch là cảm xúc thiên về trí tuệ. Tiếng cười bật ra từ cái hài luôn là một thái độ nhận thức, phê phán, phản biện hiện thực, tức tiếng cười phủ định cái tiêu cực. Nhưng cũng có tiếng cười khẳng định, đấy là tiếng cười tự trào, cười mình để khẳng định mình, thường chỉ có ở những nhà văn lớn.

Trên cơ sở những lý thuyết cơ bản này ứng vào thực tế sẽ thấy ngay cái yếu của văn học tiếng cười hôm nay ở cả ba vấn đề cơ bản là xây dựng tình huống trào phúng, nhân vật trào phúng và lời văn trào phúng.

Tài năng của nhà trào phúng trước hết là nhìn ra những mâu thuẫn mang tính ngược đời. Cuộc đời vốn đầy mâu thuẫn nhưng phải là mâu thuẫn nghịch lý, ngược đời, trớ trêu, oái oăm, ngẫu nhiên,... mới là tiền đề cho tiếng cười xuất hiện. Đám ma thông thường là buồn thương, nhớ tiếc nhưng chỉ Vũ Trọng Phụng mới nhìn thấy đó là một đám ma "hạnh phúc". Cả gia đình ai cũng mong người được coi là đáng kính, là trụ cột, là điểm tựa... chết để làm "tang gia" vì có thế mọi người mới có điều kiện thể hiện hoặc có cơ hội làm giàu... Đó là tình huống hội tụ những mâu thuẫn ngược đời.

Tình huống này vừa mang tính truyền thống vừa nhại truyền thống. Nhại ở chỗ cũng là đám ma cổ điển ở bề ngoài nhưng bên trong lại ngược hẳn để nhằm mục đích mỉa mai, để chế giễu cái nhố nhăng kệch cỡm "tân thời" lại gắn với truyền thống thì càng đáng cười hơn. Đấy là mâu thuẫn mang tính thời đại.

"Số đỏ" là tác phẩm bất hủ vì nó giễu nhại cả một xã hội văn minh rởm dở ta dở Tây! Điều này hoàn toàn đúng với truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan. Ngoài một tài năng kiến tạo các tình huống trào phúng, nhân vật của Nguyễn Công Hoan đậm tính hài, tính bi của thời cuộc. Giết mẹ là đại bất hiếu. Giết mẹ rồi làm đám ma cực to, khóc lóc cực kỳ thảm thiết thì không còn là con người mà ngược trở về loài quỷ dữ. Con người là kết quả của môi trường. Thì ra trong môi trường phi nhân tính sẽ đẻ ra những phi nhân tính! Cái ý nghĩa phổ quát bật ra thật dữ dội, lớn lao: phải thay đổi môi trường ấy để con người được có nhân tính!

Để có tiếng cười... -0
Tranh minh họa hai "thầy trò" Đôngkisốt.

Lời văn là da thịt của cơ thể tác phẩm. Lời văn tiếng cười cũng phải đầy mâu thuẫn, nghịch lý, oái oăm, đầy những tiếng nhại, tiếng mỉa... Thể hiện trước hết ở cách đặt tên truyện, tên chương, tên nhân vật. Chỉ có cái tên ẩn dụ không thể thay thế "Ngựa người và người ngựa" mới làm toát ra được cái ý kiếp người sao mà khổ thế, làm kiếp phu xe (người ngựa) cũng chẳng hơn gì kiếp gái điếm (ngựa người). Thế mà họ lại gặp nhau. Ngẫu nhiên mà hợp lý. Vì trong không gian ấy, hoàn cảnh ấy, họ còn gặp được ai...

Tiếng cười trên sân khấu hài hôm nay yếu do kịch bản chưa tạo ra những mâu thuẫn đích đáng, thiếu tính nổi bật của đời sống xã hội. Trong khi nhận thức của khán/độc giả ngày một cao thì nhiều vở chỉ là cười để mà cười, thiếu tính tư tưởng. Mới chỉ mang tính chọc cười bông lơn vui vẻ, cười xong rồi thôi hơn là sự gây cười trí tuệ sâu sắc, càng ngẫm càng thấy thấm thía, sâu lắng. Xã hội đang rất cần những Tào Mạt, Lộng Chương, Lưu Quang Vũ… những nhà trào phúng lớn!

Chất muối hài mặn mòi luôn là sự kết tinh của những mâu thuẫn đời sống được khúc xạ qua cái nhìn nghệ thuật tiến bộ, nhân văn, được cấu trúc lại thành các tình huống giàu kịch tính trớ trêu, nhầm lẫn, éo le... Kịch bản đuối tay thường dông dài, không tiêu biểu nên thường phải viện nhờ đến yếu tố cái tục.

Phải tìm ra những câu chuyện thật sự đáng cười để kể lại, dựng lại nhằm mục đích phê phán chế giễu từ đó làm bật ra ý nghĩa tích cực làm lành mạnh, trong sạch hóa cuộc sống. Từ xa xưa người ta coi sân khấu có tác dụng "thanh lọc" là theo ý nghĩa đó. Do vậy, kịch bản luôn là khâu quyết định. Tác giả kịch bản phải thực sự tài năng cùng một sự hóa thân vào cuộc đời để nắm bắt những mâu thuẫn bản chất, có "bịa" cũng phải "bịa như thật" tức phải dựa trên lôgic thực tại của cuộc sống. Về hình thức, kịch bản hài phải cô đọng, ngắn gọn, phải có tình tiết, chi tiết hài được giấu kín để làm sao khi "mở nút" bật ra thật bất ngờ kéo theo tiếng cười ngạc nhiên, thích thú, sảng khoái của người xem. Sự dài dòng sẽ làm giảm sự chú ý của khán giả, sân khấu chỉ còn là sự "độn" cảnh, "độn" lời thoại của sự pha trò vặt...

Cái hài luôn mang ý nghĩa xã hội tích cực, có thể tích truyện của ngày hôm qua nhưng tiếng cười phải hướng đến hôm nay để giúp đời tốt hơn, lạc quan, đáng sống hơn... Vì thế diễn xuất phải làm sống động hóa kịch bản, diễn viên phải hiểu thấu ý nghĩa chủ đề, có hiểu đời mới đau đời. Nhân vật Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan càng đau bên trong (vì cha ở nhà đang hấp hối) nên càng diễn xuất sinh động (trên sân khấu) mà hấp dẫn khán giả!

Không phải cứ có tiếng cười là cần đến cái tục, vì cái tục chỉ là một trong nhiều phương tiện, phương thức gây cười. Ngay ở truyện tiếu lâm hay ca dao trào phúng cái tục cũng chỉ xuất hiện khi cần đến sự vạch trần, đả kích, châm biếm đích đáng đối tượng. Sự có mặt của nó còn tùy thuộc chủ đề, hoàn cảnh không gian, nội dung kịch bản, tùy thuộc đối tượng tiếp nhận. "Đônkihôtê" của Xécvantec có cái tục đâu mà sao tiếng cười triết lý, chua chát như thế. Ở ta, tiếng cười của mỹ học Nho gia Nguyễn Khuyến, trước đó là Hồ Xuân Hương rất ít cái tục nhưng sao mà đau đớn đắng đót và tinh tế sâu sắc... Lạm dụng cái tục là hạ thấp và coi thường độc giả!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.