Đầu tư cho văn hóa cần đồng bộ và hiệu quả

Lĩnh vực văn hóa đang ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư và tổ chức tài trợ, không chỉ vì giá trị truyền thống mà còn vì khả năng tạo ra cơ hội kinh tế bền vững và nâng cao giá trị xã hội.

Đầu tư và tài trợ cho văn hóa thế nào để ngành này xứng với tiềm năng “con gà đẻ trứng vàng” là điều mà các chuyên gia, các nghệ sĩ ở nhiều lĩnh vực nhiệt tình thảo luận tại hội thảo do Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam phối hợp cùng các đơn vị tổ chức.

Kho tàng di sản chưa phát huy được giá trị

Ngành công nghiệp văn hóa bao gồm nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, thời trang, thiết kế... là một trong những lĩnh vực có tiềm năng phát triển mạnh mẽ, đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân. Việc lựa chọn văn hóa trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn tăng trưởng kinh tế không chỉ giúp tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu tinh thần của người dân mà còn tạo ra nhiều công ăn việc làm.

Tuy nhiên, như nhận định của Tiến sĩ Hà Huy Ngọc (Viện Kinh tế Việt Nam) thì hiện nay, công nghiệp văn hóa đang là “con gà đẻ trứng vàng” của nhiều nền kinh tế thế giới. Ở Việt Nam, sau 6 năm (2016-2022), Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã được phê duyệt nhưng ngành công nghiệp văn hóa vẫn chưa có nhiều dấu hiệu khởi sắc.

Trong đó, Hà Nội cũng có kế hoạch thực hiện chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa nhưng hầu hết các lĩnh vực công nghiệp văn hóa phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của Thủ đô. Ví dụ như Hà Nội đang sở hữu kho tàng di sản vô giá và phong phú với gần 6.000 di tích, 1 di sản văn hóa thế giới, gần 2.000 di sản văn hóa phi vật thể nhân loại... Tuy nhiên, kho tàng di sản này chưa được đầu tư hiệu quả để phát huy giá trị, thế mạnh. Việc bảo tồn văn hóa không đồng bộ, các dự án bảo tồn thường bị thực hiện một cách rời rạc, không mang lại hiệu quả lâu dài.

Đầu tư cho văn hóa cần đồng bộ và hiệu quả -0
Bảo tồn di sản là một trong những yếu tố trong đầu tư cho văn hóa.

Bà Cao Ngọc Ánh (Nhà hát Tuổi trẻ) thì cho rằng, trong bối cảnh đô thị hóa, việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là nhiệm vụ cấp bách. Tuy nhiên, nhiệm vụ quan trọng này gặp nhiều khó khăn về mặt tài chính. Ví dụ, với đề án sưu tầm các điệu múa cổ của Hà Nội, nguồn kinh phí 547 triệu đồng cấp cho Hội Nghệ sĩ múa Hà Nội hằng năm chỉ đủ đáp ứng phần sưu tầm cơ bản như điền dã và viết tổng kết. Các hoạt động lưu trữ và phổ cập tới công chúng như tổ chức biểu diễn hoặc xuất bản sách lại không đủ để đồng bộ trong cùng 1 năm tài chính. Điều này dẫn đến việc thời gian cho một dự án bị kéo dài do thiếu kinh phí, làm chậm tiến độ hoàn thành và giảm đi sự nhiệt tình của các nhà nghiên cứu.

Tương tự, trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn hiện vẫn tồn tại nhiều bất cập. Nếu như trên thế giới, thể loại nhạc kịch với sự tồn tại lâu đời và sự độc đáo riêng đã trở thành sản phẩm nghệ thuật đắt giá của ngành công nghiệp biểu diễn với doanh thu cao và diễn viên nhạc kịch trở thành các ngôi sao sáng trong nghệ thuật. Với tiêu chuẩn một diễn viên nhạc kịch cần được đào tạo bài bản với 3 kỹ năng (diễn xuất, thanh nhạc, nhảy múa) thì hiện tại Việt Nam chưa có trường đào tạo nghệ thuật chuyên biệt cho loại hình này.

Thực tế gần đây, số lượng vở diễn tăng lên nhưng diễn viên vẫn đang chủ yếu đào tạo theo kiểu “mì ăn liền” thông qua các vở diễn hoặc qua các dự án hợp tác quốc tế, đi kèm dàn dựng vở là đào tạo ngắn ngày từ các nguồn diễn viên đào tạo riêng như ca sĩ, diễn viên múa, diễn viên sân khấu... Ngoài ra, những thành phần của ê-kíp sáng tạo như đạo diễn, kỹ thuật viên cũng chưa được đào tạo sâu về thể loại này nên đa phần vừa làm vừa khám phá.

Hạ tầng dành cho nghệ thuật biểu diễn cũng rơi vào tình trạng thiếu và yếu. Tại Thủ đô Hà Nội, các rạp hát đủ tiêu chuẩn quốc tế đếm trên đầu ngón tay, chỉ có Nhà hát Lớn Hà Nội, Nhà hát Hồ Gươm, còn lại đều quá cũ, không phù hợp nếu muốn tổ chức những đêm nghệ thuật hoành tráng.

Thạc sĩ Hoàng Thị Thu Thủy (Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam) nhấn mạnh tới việc cần đầu tư vào điện ảnh bởi đây là ngành có tiềm năng lớn trong việc tạo ra nhiều cơ hội việc làm đóng góp vào tăng trưởng GDP, đồng thời là công cụ hiệu quả trong việc quảng bá hình ảnh văn hóa, đất nước đến bạn bè quốc tế. Ví dụ như bộ phim “Mai” (đạo diễn Trấn Thành), “Lật mặt” (đạo diễn Lý Hải) khi mới ra rạp, doanh thu từ 10 đến 20 tỷ đồng/ngày.

Từ 2017, doanh thu của ngành điện ảnh Việt có sự tăng trưởng đáng kể. Năm 2023 doanh thu từ các phòng vé đạt 2.000 tỷ đồng, gấp đôi so với năm 2018. Tuy nhiên, ngành điện ảnh Việt Nam hiện còn phải đối mặt với nhiều thách thức như thiếu hụt nguồn tài chính, cơ sở vật chất lạc hậu và thị trường phân phối chưa phát triển mạnh. Đầu tư vào điện ảnh sẽ không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn là cách để bảo tồn và lan tỏa những giá trị văn hóa của dân tộc.

Tăng cường hợp tác công - tư

Theo nhà sản xuất/đạo diễn Nguyễn Quốc Hoàng Anh, chủ nhân chương trình “Lên ngàn” thì cách thức hiệu quả nhất mà nhiều quốc gia đã thực hiện thành công trong việc tạo dựng thương hiệu quốc gia chính là việc kết nối đầu tư công - tư với di sản văn hóa địa phương, tích hợp thương hiệu doanh nghiệp địa phương vào cùng một chuỗi giá trị với thương hiệu quốc gia trong một chỉnh thể thống nhất. Và, chính thương hiệu quốc gia sẽ tiếp thêm sức mạnh cho từng thương hiệu doanh nghiệp trong quốc gia đó.

Ông cũng lưu ý, hiện nay, khách hàng và xã hội ngày càng dành sự chú ý đặc biệt cho các thương hiệu tôn trọng thiên nhiên, di sản văn hóa, môi trường và con người. Việc tài trợ, bảo trợ văn hóa là một cách quảng bá thương hiệu, sản phẩm tinh tế và hữu hiệu.

Ở lĩnh vực điện ảnh, Nhà nước cần đóng vai trò hỗ trợ thông qua cung cấp các chính sách ưu đãi, cơ chế đầu tư công và tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân tham gia lĩnh vực sản xuất và phát hành phim. Việc lập các quỹ hỗ trợ điện ảnh, trong đó nguồn vốn từ Nhà nước và tư nhân cùng đóng góp, giúp giảm thiểu rủi ro tài chính. Hợp tác công - tư còn mở ra cơ hội đưa phim ra thị trường quốc tế thông qua các mạng lưới phân phối toàn cầu của các công ty lớn. Xây dựng phim trường với các khu vực thiết kế chuyên biệt cho từng thể loại phim, phát triển dịch vụ xem trực tuyến...

Đầu tư cho văn hóa cần đồng bộ và hiệu quả -1
Điện ảnh là lĩnh vực có thế mạnh trong việc quảng bá đất nước, con người Việt Nam ra với thế giới.

PGS.TS Võ Thị Mai Phương (Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam) cho biết, tại phố Hàng Buồm (Hà Nội), một số mô hình xã hội hóa thành công như các buổi trình diễn nhạc cụ truyền thống trên phố đi bộ nhận tài trợ từ doanh nghiệp, nhưng vẫn do nghệ nhân địa phương thực hiện. Tổ chức các sự kiện văn hóa theo định kỳ (lễ hội đêm phố cổ), từ đó tạo dựng thương hiệu văn hóa bền vững cho phố Hàng Buồm. Một số mô hình kinh doanh kết hợp bảo tồn: nhiều hộ gia đình tại phố cổ này kết hợp kinh doanh sản phẩm đặc trưng như bánh kẹo truyền thống, dụng cụ khắc dấu và trưng bày nghề thủ công, thu hút khách du lịch trải nghiệm văn hóa. Phát triển sản phẩm du lịch đặc sắc như tour du lịch “Một ngày khám phá phố cổ Hà Nội”, đưa du khách tham quan các điểm đến văn hóa tại Hàng Buồm, kết hợp các hoạt động trải nghiệm như học làm oản, khắc dấu hoặc tham gia lễ cúng truyền thống tại đình Hàng Buồm. Đây là minh chứng cho sự thành công của việc kết hợp cộng đồng, chính quyền và doanh nghiệp trong việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

Việc giao lưu, học hỏi với các đơn vị nghệ thuật trên thế giới là điều cần thiết. Nhà hát Tuổi trẻ nói riêng và các nhà hát khác đã và đang có nhiều hoạt động giao lưu nghệ thuật biểu diễn với các quỹ văn hóa của các quốc gia: Nhật Bản, Hàn Quốc, Bỉ, Đức... giúp các nghệ sĩ được tập huấn chuyên môn tại chỗ cũng như trao đổi diễn viên, đạo diễn kỹ thuật viên giữa các nước. Nhiều kinh nghiệm hay từ các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc cũng đã được các chuyên gia mang đến để gợi mở cho Việt Nam trong việc đầu tư và tài trợ cho văn hóa.

“Chính phủ thúc đẩy làn sóng Hàn Quốc như một nguồn thu nhập mới bằng cách gia tăng xuất khẩu các sản phẩm văn hóa và thúc đẩy ngành du lịch. Làn sóng này không chỉ dừng lại ở lĩnh vực âm nhạc, phim ảnh mà còn mở rộng sang nghệ thuật, giải trí và công nghệ” - bà Nguyễn Thị Thu Trang (Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam) chia sẻ kinh nghiệm từ Hàn Quốc.

Khánh Thảo

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).