Dấu ấn Ngô Xuân Khôi

Nổi danh trong giới xuất bản, văn chương, hội họa, họa sĩ Ngô Xuân Khôi đã có xấp xỉ 30 năm làm nghề, với các sản phẩm là bìa sách và minh họa. Tên tuổi của ông được biết đến nhiều hơn nữa khi tác phẩm “Sao la” của ông được chọn làm linh vật SEA Games 31, năm 2022 tổ chức tại Việt Nam. Gần đây, ông còn là thành viên ban giám khảo của một số cuộc thi vẽ tranh thiếu nhi. Dẫu vậy, họa sĩ khiêm tốn chỉ nhận mình được nhiều người biết đến do đặc thù công việc.

Trắc trở con đường đến với hội họa

Là con cả trong gia đình công chức nhỏ có 6 anh chị em, họa sĩ Ngô Xuân Khôi đã bộc lộ niềm đam mê và năng khiếu hội họa từ rất sớm, nhưng con đường đến với hội họa chuyên nghiệp của ông lắm gian truân, trắc trở. Lên cấp 3, ông đã định hướng theo đuổi ngành mỹ thuật nhưng hoàn cảnh khó khăn, gia đình mong muốn tương lai con cái theo một hướng khác.

Dấu ấn Ngô Xuân Khôi -0
 Họa sĩ Ngô Xuân Khôi.

Đang học phổ thông, năm 1979, chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra. Gác lại ước mơ, bỏ lại bút nghiên, Ngô Xuân Khôi hăng hái tình nguyện lên đường nhập ngũ theo Lệnh tổng động viên như bao thanh niên cùng thế hệ đang sục sôi ý chí sẵn sàng chiến đấu, hy sinh thân mình vì vận mệnh của đất nước. Có thể nói, họa sĩ Ngô Xuân Khôi thuộc thế hệ nghệ sĩ - chiến sĩ. Trong thời gian tại ngũ, dù chưa được học hành, đào tạo về mỹ thuật, việc vẽ hoàn toàn là bản năng nhưng nhờ năng khiếu, ông được giao nhiệm vụ kẻ vẽ khẩu hiệu, cắt chữ dán băng-rôn, phóng tranh cổ động. Lúc đầu là ở đại đội, tiểu đoàn, sau đó làm công tác tuyên huấn của trung đoàn. Khi đó, ông được vẫy vùng trong môi trường mà mình yêu thích.

Ra quân năm 1982, mặc dù chưa tốt nghiệp phổ thông, ông vẫn nuôi ý định thi đại học, làm họa sĩ. Dù đã có quyết định làm nhân viên kiểm lâm, nhưng năm ấy, ông vẫn thử sức và thi đỗ Trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội với số điểm cao, đủ để đi học nước ngoài nhưng không thể đi do chưa qua kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông. Năm sau, tự tin hơn với khả năng của mình, ông dành thời gian theo học lớp 12 để hoàn thành chương trình phổ thông. Năm ấy, trường đại học nơi ông quyết tâm thi vào chỉ ưu tiên tuyển sinh 6 tỉnh biên giới phía Bắc, ông tiếp tục phải ở lại nhà một năm nữa. Trong thời gian đó, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông đi làm đủ thứ để mưu sinh, từ bốc vác, thợ nề, thợ mộc... cho đến khi ra Hà Nội ôn thi. Trước kia thi vào là văn, sử, vẽ - những môn lợi thế nhưng đến lúc ông ôn thi, lại chuyển thành thi văn, toán, vẽ. Vốn không có lợi thế về toán, lại bỏ bẵng một thời gian, dẫu vậy, năm 1985, ông trọn ước nguyện khi thi đỗ ngành Hội họa hoành tráng của Đại học Mỹ thuật công nghiệp với số điểm cao.

Sau khi tốt nghiệp đại học, họa sĩ Ngô Xuân Khôi có thời gian ngắn làm cho một công ty nước ngoài. Ở môi trường này, ông tự thấy không phù hợp, khó thích nghi. Trước khi làm ở Nhà xuất bản Phụ nữ, ông có gần mười năm công tác tại Nhà xuất bản Ngoại văn (nay là Nhà xuất bản Thế giới).

Trong thời gian làm việc ở Nhà xuất bản Ngoại văn, ông có cơ duyên quen biết nhiều nhà văn, nhà thơ, nhờ những minh họa đẹp, ấn tượng và năng khiếu văn chương, ông được giới thiệu cộng tác minh họa với Báo Văn nghệ. Từ cái nôi Văn nghệ, Ngô Xuân Khôi trở thành cộng tác viên minh họa, vẽ bìa sách của nhiều báo, nhiều nhà sách, nhà xuất bản và các văn sĩ. Ngoài công việc chính là làm Họa sĩ trưởng của Nhà xuất bản Phụ nữ cho đến khi nghỉ hưu năm 2022, ông còn cộng tác thường xuyên với nhiều tờ báo như Văn nghệ, Văn nghệ quân đội, Văn nghệ công an, Thời báo Văn học nghệ thuật, nhiều ấn phẩm báo chí văn nghệ địa phương... Nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng mong muốn được họa sĩ Ngô Xuân Khôi minh họa cho tác phẩm của mình.

Vẽ từ trải nghiệm, phông nền văn hóa

Với Ngô Xuân Khôi, người họa sĩ không chỉ thuần túy là luyện tay nghề để vẽ giỏi mà phải có phông nền văn hóa, tức là phải dung nạp rất nhiều thứ, kể cả những thứ tưởng chừng như không liên quan đến mỹ thuật bằng nhiều kênh khác nhau nếu muốn hành nghề một cách thấu đáo và có trách nhiệm. Bởi, các tác phẩm văn học có sự đa dạng về thể loại, cốt truyện, mọi ngành nghề, kiến thức trong xã hội, văn hóa, đa dạng về cấu tứ... cần có phông nền văn hóa rộng để cảm thụ và truyền tải được đúng nội dung, thông điệp của tác phẩm và phong cách của tác giả.

Bởi vậy, ngoài trải nghiệm, kiến thức, vốn sống của một người lính đi qua hai thế kỷ và lợi thế làm việc ở nhà xuất bản, cộng tác với nhiều cơ quan báo chí, tiếp xúc với nhiều sách báo, Ngô Xuân Khôi không ngừng học hỏi thêm để làm dày thêm vốn sống. Sau khi nghỉ hưu, họa sĩ có thời gian tham gia thỉnh giảng tại Đại học Mỹ thuật công nghiệp và mở lớp dạy vẽ. Với ông, giảng dạy vừa là một phần mơ ước từ thuở nhỏ, vừa là động lực và cơ hội để ông tiếp tục học hỏi, trau dồi nâng cao, bồi đắp thêm những kiến thức mới.

Khẳng định mình - Đa dạng mình

Sự trắc trở của con đường đến với nghệ thuật cùng vốn sống, vốn trải nghiệm, vốn văn hóa tạo nên một Ngô Xuân Khôi nghiêm cẩn trong công việc và thăng hoa trong sáng tạo, đưa tên tuổi Ngô Xuân Khôi lên vị trí những họa sĩ minh họa hàng đầu hiện nay ở nước ta.

Dấu ấn Ngô Xuân Khôi -1
Dấu ấn Ngô Xuân Khôi -2
Một số minh họa của họa sĩ Ngô Xuân Khôi.

29 năm theo con đường hội họa chuyên nghiệp, trung bình mỗi năm thực hiện 100 bìa sách, còn minh họa thì theo họa sĩ Ngô Xuân Khôi, đó là con số “không đếm xuể”. Ngoài ra, ông còn vẽ tranh. Với ông, thiết kế, minh họa vô tình trở thành nghề, là làm theo đơn đặt hàng, còn vẽ tranh là đam mê để thỏa mãn mình, khám phá và khẳng định mình. Tuy nhiên, minh họa là công việc cứ “đến hẹn lại lên” đã xé lẻ và chiếm nhiều thời gian cũng như mạch cảm xúc của ông.

Về bìa sách, họa sĩ Ba Tỉnh nhận định, “Ngô Xuân Khôi thiết kế những bìa sách đẹp và cô đọng - ước lệ mà lôi cuốn. Là một trong những yếu tố quan trọng để bạn đọc lựa chọn cuốn sách giữa hàng trăm cuốn sách khác”. Vẽ chân dung, ra đặc điểm và thần thái nhân vật là một thế mạnh khác của họa sĩ Ngô Xuân Khôi. Thời sinh viên, mỗi dịp hè là ông về các vùng quê vẽ truyền thần để kiếm thêm thu nhập. Một bạn học cũ của ông cho biết: “Ở mảng tranh chân dung, Ngô Xuân Khôi bắt chân dung rất chuẩn, khó tìm thấy gương mặt nào mà thầy vẽ không ra, chỉ cần vài nét thôi... Khôi nổi tiếng về cái đó, bạn học đều khẳng định, không dễ tìm được người vẽ như Khôi, nhưng Khôi thiên về minh họa”.

Với minh họa, khi nhận bản thảo, họa sĩ Ngô Xuân Khôi “đọc không bỏ sót một chữ nào” để thẩm thấu các tầng ý nghĩa của tác phẩm văn chương, khái quát cốt truyện, tìm chi tiết, đặc trưng tính cách, dung mạo của nhân vật. Lựa chọn bút pháp, họa cụ sao cho hợp tạng, tương đồng với tác giả văn chương. Họa sĩ Ngô Xuân Khôi quan niệm, vẽ minh họa là “đồng cảm với văn chương và làm sáng rõ lên ý tưởng, nội dung của câu chuyện”. Ngoài tài năng hội họa, năng khiếu, sự đam mê văn chương cùng năng lực cảm thụ văn học có lẽ là chìa khóa để ông dễ dàng thẩm thấu, hiểu được cốt truyện, thông điệp của văn chương, đồng cảm với tác giả. Theo họa sĩ Ngô Xuân Khôi, điều tối kỵ của minh họa với ông là việc áp đặt cá tính, phong cách của mình cho tác phẩm và việc vẽ theo sự “quen tay” nhưng nhầm lẫn đó là phong cách.

Thể hiện tinh thần của tác phẩm văn chương nhưng minh họa cũng cần song hành phong cách của họa sĩ. Ngô Xuân Khôi luôn chú trọng việc thay đổi, đa dạng trong sự nhất quán phong cách, bởi vốn dĩ ở chính mỗi tác phẩm, không có tác phẩm nào là giống tác phẩm nào. Sự đa dạng là chính tờ báo, tập sách mình minh họa và cũng là đa dạng chính mình.

Có dấu ấn cá nhân trong sự đa dạng, điều đó mới mẻ và gây bất ngờ cho độc giả. Có thể mới mẻ chưa chắc đã được độc giả cảm nhận. Nhưng mới mẻ với chính mình, đấy cũng đã là thành công của người họa sĩ, đặc biệt với người vẽ nhiều minh họa như ông.

Vẽ vừa đa dạng trong phương thức thể hiện để hấp dẫn nhưng vẫn tròn đầy phong cách để nhận diện được một phong cách hội họa riêng. Minh họa của Ngô Xuân Khôi dù chỉ bằng những nét ký họa đơn sơ đen trắng nhưng vẫn mang cảm xúc, truyền tải được cái hồn của tác phẩm, bố cục chặt chẽ mời gọi, cuốn hút độc giả. “Đẹp, duyên!” là cụm từ rất thường thấy khi các văn nghệ sĩ và độc giả nhận xét về minh họa Ngô Xuân Khôi.

Nguyễn Chi

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).