Đọc “Thinh không”, thơ Đào Đức Tuấn, NXB Hội Nhà văn, 2017

Đào Đức Tuấn: Xa giá thinh không

Khái niệm “thinh không” ấy hình như thi sĩ Đào Đức Tuấn bắt gặp tự nhiên nhi nhiên từ một điều gì đại loại như “vô thường”, một “sắc sắc không không”.

Thinh không là gì, điều đó hẳn làm bận lòng bao nhiêu người, từ đấng cứu thế đến kẻ thường dân, tất nhiên trong đó không thể không kể đến bao nhiêu thế hệ các nhà thơ. Thì ra, cái chốn không trung, nơi hoàn toàn vắng lặng, tưởng không nhìn thấy gì cả, lại là điểm tựa của tầm nhìn, của sự lắng nghe, của cửa mở giác quan con người và tạo vật. 

Mà phàm những gì thuộc về thế giới thi sĩ thì biến ảo khôn lường, đôi khi họ chìm đắm vào ái ố hỉ nộ của đời sống để tìm kiếm một thinh không và nhiều lúc họ chìm đắm vào thinh không để bì bõm giữa bao nhiêu sáng tối đắng ngọt của kiếp người!

Khái niệm “thinh không” ấy hình như thi sĩ Đào Đức Tuấn bắt gặp tự nhiên nhi nhiên từ một điều gì đại loại như “vô thường”, một “sắc sắc không không” Đà Lạt:

sáng ra Đà Lạt là sương
ai đi chợ sớm dưới đường chiêm bao
thân ta rủng rỉnh ba đào
thương câu hát đợi lạnh vào rừng thông

Cái thân sinh viên thì ngụ cư ở 5 năm đèn sách thành phố cao nguyên Lang Bian, còn cái thân “rủng rỉnh ba đào” thì nhập hộ khẩu ở khoảng “đường chiêm bao”. Vậy còn chốn sinh thành, nhà thơ không phải sắm vai nhà từ điển cũng buột miệng cho ra một định nghĩa đau đáu:

quê hương là tiếng hu huơ
đành lòng phải nói vẩn vơ giang hồ

Không phải là tiếng hô trước khi xung trận của những chiến binh Scotland, cũng không phải là khẩu hiệu thương mại mà đây có thể coi là slogan đời thơ:

một nửa trinh nguyên
nửa kia hoang dại
Mãnh liệt đến cạn cùng:
yêu người yêu đến độ
cứ muốn vò nát cả nơi trăng nằm

Như nhiều nhà thơ cùng thế hệ, bước ra khỏi mái ấm Văn Khoa, Đào Đức Tuấn hăm hở với cuộc lập thân chữ nghĩa bằng việc làm báo. Độc giả báo chí từ ngỡ ngàng đến quen thuộc, rồi đôi lúc xôn xao về một nhà báo xông xáo, đa năng, có mặt trên nhiều tờ báo rộng hẹp lớn nhỏ, với đủ các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đủ loại bút danh… Một gã trai giang hồ vặt và giang hồ thiên lý, có mặt khắp… những nơi cần có mặt, từ chốn con sò huyết hí hóp thở dưới đáy đầm Ô Loan đến nơi đàn hải âu tung cánh giữa trời nước chủ quyền Trường Sa, từ mỏm núi Đá Bia bồng bênh mây trắng đến vòm lá sấu bên hồ Thiền Quang…

Tất nhiên, với cái nghề và cái nghiệp như Đào Đức Tuấn bây giờ, đi khắp nước Việt cũng không khó (cho dù cũng không dễ), tuy nhiên khó nhất là dấu ấn của mỗi chuyến đi hiện lên đậm nhạt trong con chữ. Ở góc độ hoạt động này, lần theo những trang thơ đắm đuối nhân tình, đôi khi lại bắt gặp một nhà báo tung tẩy và lần theo những trang báo thời sự nóng hổi, đôi khi lại bắt gặp Đào Đức Tuấn thi sĩ.

Hơn một lần Tuấn đã định nghĩa quê hương, rồi suốt hành trình thơ, quê hương Xứ Nẫu đeo đẳng Tuấn trên từng dấu vết ngôn từ, những “thâu tui dìa”, những “trở lại làm ngừ” và lan sang cả những “âu” “hà nậu”… Cái kiểu “ưng hổng ưng thì thâu nói dứt phát” của người Xứ Nẫu có thể là thứ gia vị đá nổi rong chìm, không phải là không gây “xóc ốc”, nhưng dư vang đậm đà luôn là điểm đến của nó.

Tự giới thiệu với cố đô thơ mộng:
tui gã trai sông ba Xứ Nẫu
lang bạt tóc tim
đời chẳng đậu đình
sáng hương giang bừng hoa bươm bướm

rồi phải chằng phải cột lại nhau
hỡi những nàng tiên cánh mỏng
biết nơi đâu là thiên đàng địa ngụcBỗ bã với Hội An di sản:
đeo Hội An một bên
không phải cổ nào cũng kính
Ký họa tục lụy:
ân ái phu phen
bản thể xửng cồ
Tự hát (không phải karaoke) trong đêm:
dòng sông sao không buông trôi
đường đi sao không buông xuôi
ngày qua sao không buông tha
còn ta sao không buông tay

Nỗi niềm (“văn hóa phi vật thể” lẫn cùng “văn hóa vật thể”):

tương tư chấm với tương cà
để nghe trong bụng xót xa mịt mù
Tự kiểm:
mình ta dài rộng mình ta
dại gì bó hẹp vào ba chuyện trời
Cái “không” bên cạnh cái “có”:
em tươi hương thành thục
ta cắn vào hư vô
Cái “có” bên cạnh cái “không”:
có gì mà quẫy loi thoi
mà mê quỷ dữ
mà đòi thiên thu

Trong cuộc thơ lẫm liệt ấy, Đào Đức Tuấn tự thấy cần đầu tư vào “dự án”:

phải quy hoạch lại hồn ta thôi
bừa bộn niềm đau bừa bộn nỗi cười

Trước “Thinh không” (2017), Đào Đức Tuấn đã cho ra mắt tập thơ “Chiều chậm” (2005) và tập thơ thiếu nhi “Ôm tròn trái đất” (2010), những tập thơ mà ngay từ cái nhan đề đã tạo cho người đọc hướng về một cảm thức về thời gian và không gian. Dù báo chí hay thơ ca, và dù thơ cho người lớn hay tuổi thơ, tâm ý của Tuấn là viết một cái gì rất riêng, rất khác. Ngay cái cảm thức thuộc về lẽ muôn đời của ngàn muôn thi sĩ ấy, ở Tuấn là:

thời gian vô tình
vô tự
mỏi mong bụi bờ
xa giá thinh không
thinh không
thinh không
thinh không

Cái mệnh đề “xa giá thinh không” giàu ý nghĩa lắm, hay nói cách khác, đây là những dòng kê khai cho bản lý lịch đời và thơ của đôi chân khát vọng và một tâm hồn tự do! Thinh không đối với nhà thơ Xứ Nẫu Đào Đức Tuấn vừa là niềm đam mê vừa là chốn giãi bày, vừa là nơi chất vấn, vừa là nguồn an ủi trong cuộc phiêu bồng bụi bặm… Hơn bốn thập kỷ đời người trong đó có ngót hai thập kỷ vừa an trầm vừa bươn bả cùng trường văn trận bút, khóc cười với một thế gian tĩnh lặng và biến động, dường như Đào Đức Tuấn đã gieo ít nhiều hồn nhiên giữa cuộc phong ba và ít nhiều phong ba giữa cuộc hồn nhiên… 

Nguyễn Thanh Mừng

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.