Đặng Quốc Vinh và hành trình “Tìm nửa của mình”

Tác giả lấy tên bài thơ đã găm vào trí nhớ nhiều thế hệ sinh viên làm tiêu đề cho tập thơ: “Tìm nửa của mình”. Tôi lần đọc từng bài, điểm thời gian từ 1985 đến nay để cảm nhận dòng chảy thi ca Đặng Quốc Vinh dồn nén suốt mấy chục năm.

Hóa ra Đặng Quốc Vinh sau khi mãn nguyện “tìm nửa của mình” trong cuộc đời lại tiếp tục đi “tìm nửa của mình” trong thi ca. Cái nửa thi ca đó nó cứ như người tình đỏng đảnh, lúc ẩn lúc hiện, bỡn cợt trêu đùa. Khi suy tư chiêm nghiệm, khi rạo rực reo vui, khi ào ạt tuôn trào, khi âm thầm lẩn trốn.

71837fa6863f0861512e.jpg -0
Nhà thơ Đặng Quốc Vinh.

Tôi chợt nhớ có lần Trần Đăng Khoa chọc đùa anh Phùng Ngọc Hùng: “Ông Phùng Ngọc Hùng giống như cái võng, một đầu móc vào bờ tường quan chức, một đầu móc vào thơ ca. Bên thơ ca thì bảo ông ấy là quan chức, bên quan chức thì bảo ông ấy là thơ ca. Còn ông thì cứ nằm giữa đu đưa với cả hai nửa nhà thơ và quan chức”.

Đặng Quốc Vinh thì kín kẽ. Đầu quan chức móc rất chặt, còn đầu thơ ca giấu rất êm, đến khi tóc ngả màu sương mới đóng cái đinh vào bờ tường thơ ca để móc nửa kia của mình lên, trình làng nàng thơ đầy duyên nợ đã lặng lẽ vụng tình suốt mấy chục năm qua.

Một trong những mạch cảm hứng thi ca ở Đặng Quốc Vinh là dòng chảy tự sự và những chiêm nghiệm, trăn trở khi viết về quê hương, nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn anh từ ngày thơ bé. Đó là quê hương của vua Mai Hắc Đế, của những huyền thoại về Chân Tiên, Kim Dung, ông Đùng.

Ở đó “có con cò trắng đậu vào câu ca”, nơi “mãi là hồn thiêng”, để cho anh ao ước: “Mai rồi hết cuộc ruổi rong/ Cho tôi xin được về trong đất làng” (Đất làng, Quê tôi). Những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết của làng quê về Đảo Bớc, Hồng Lĩnh thấm vào trang thơ như hơi thở. Và cả những đổi thay của quê hương cũng khơi dậy biết bao tâm sự.

Ngày trước cả làng cát luôn nơm nớp “trong buồn lo giáp hạt”. “Giờ cát chẳng còn là cát nữa”, thay vào đó là “nhà cao ngõ rộng”. Những đổi thay khiến tác giả không khỏi day dứt khi quay về tuổi thơ, để càng thấy mẹ “mãi mãi lung linh”, để “thương mẹ một đời khát bỏng” và thương cả “bao nhiêu đời rát bỏng bàn chân” (Cát trắng).

Anh dành những vần thơ tràn ngập tình yêu thương khi viết về mẹ, người đã “mấy chục năm chiến tranh đi qua/ hết tiễn chồng lại tiễn con ra trận” (Xin mẹ yên lòng). Anh “nguyện cầu cho bình yên/ để dài thêm năm tháng” luôn có mẹ bên mình: “Con nhìn vào mắt Mẹ/ Thấy cả trời yêu thương/ Bao nhiêu điều hơn thiệt/ Bỗng nhỏ bé vô cùng” (Nguyện cầu).

Trong dòng chảy tự sự đó, thơ Đặng Quốc Vinh nhiều khi lắng lại với những suy ngẫm, chiêm nghiệm. Thảng thốt trước quy luật nghiệt ngã của thời gian: “Giật mình, Đông xế, Xuân sang/ Bời bời công việc, thời gian chớp vèo!” (Thời gian); “Mai rồi như chiếc lá bay/ Tìm nhau chỉ thấy đất dày, trời cao” (Đường đời). Bàng hoàng khi tai nạn cướp đi sinh mạng một cuộc đời: “Mỗi lần nghe tin tai nạn/ Tóc xanh chuyển bạc trên đầu” (Hoa trắng). Cảm thương những thân phận: “Giữa trưa nắng rát- thân gầy/ Người đi che nắng biết ngày nào râm” (Người đi bán lá đùng đình).

Mạch trữ tình vẫn là dòng cảm xúc chủ đạo của thơ Đặng Quốc Vinh. Chất trữ tình xuyên suốt trong dòng chảy tự sự, vỡ òa trong tình yêu đôi lứa, tình yêu thiên nhiên, đất nước, con người và những vùng đất mà anh đã đi qua. Bài thơ “Tìm nửa của mình” có tứ độc đáo, câu chữ dung dị, chân thật, “bóc mẽ” gan ruột tuổi hoa niên đang đi tìm nửa của mình, “nhưng tìm mãi đến bây giờ chưa thấy”.

Đến khi từng trải, đã có “nửa của mình”, Đặng Quốc Vinh mới thấy cái nửa tìm được nó vô giá thế nào. Vợ mới vắng nhà vài tháng mà “Tất cả đều đảo lộn/ Ăn, ngủ cứ thất thường/ Cửa nhà luôn bề bộn/ Nụ cười như chạy trốn/ Nhung nhớ cứ dài thêm” (Em xa). Chả trách cái ngày còn mộng mơ thèm khát “tình yêu đích thực”, anh đã thề thốt “Nếu chẳng còn em, tôi đành sống vậy/ Không nhặt nửa của ai làm nửa của mình”.

Yêu vợ đến thế, bản lĩnh đàn ông đến thế, nên cái đầu võng quan chức mới dính chặt được với sự nghiệp Đặng Quốc Vinh, o bế cả nàng thơ đỏng đảnh chỉ chực muốn phá tan lồng ngực mà đu đưa với thi ca để “mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây” như Xuân Diệu.

Dù rằng anh cũng lắm khi lãng đãng vu vơ với những bóng hồng: “Nhìn mái tóc ai buông dài bên suối/ Lại nhớ em tím cả trời chiều” (Với Hương Khê); “Đêm lạnh lắm, sấu ơi đừng rơi nữa/ Để nỗi buồn xa vắng cứ dày thêm” (Thu Hà Nội). Chỉ một chút thôi, rồi chàng trai cá gỗ lại tỉnh bơ cao ngạo: “Trai xứ Nghệ hiền lành như rứa/ Mà làm say, nghiêng ngả gái Kinh Thành” (Trai xứ Nghệ).

a_(1)(1).jpg -1

Đặng Quốc Vinh lãng mạn và phóng khoáng khi viết về những vùng đất anh đã đặt chân tới. Những Lũng Cú, Mèo Vạc, rồi Hàng Châu, Mátxcơva, Berlin, thành Viên… như những cánh cửa mở bung hồn thơ. Những khoảng trời mới lạ cho anh những câu thơ đẹp: “Lên đây gần với trời mây/ Đường như chỉ rối bủa vây núi đồi” (Lên Lũng Cú); “Gửi vào đá xám, trời xanh/ Tình yêu nguyên thủy đinh ninh lời thề” (Chuyện tình Mèo Vạc); “Đêm buông xuống Hàng Châu huyền ảo lắm/ Tháp Lôi Phong vót nhọn một góc trời/ Chùa Linh Đàm ngàn năm trầm mặc/ Tống Thành viên tiếng nhạc chơi vơi” (Viết ở Hàng Châu); “Đêm trắng bây giờ như thể trắng hơn/ Quảng trường Đỏ bây giờ vẫn đỏ/ Sông Volga giấu bao điều trong đó/ Những biến cố thăng trầm lịch sử mãi còn in” (Matxcơva); “Viên - thành phố của lâu đài, cung điện/ Của thi ca nhạc họa muôn đời/ Đâu cũng gặp những ánh nhìn thánh thiện/ Trong êm đềm tiếng nhạc, em ơi!” (Thành Viên)…

Tác giả “Tìm nửa của mình” trầm tĩnh khi khắc họa những chân dung văn hóa, vinh danh những con người. Đó là Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng: “Người đi khắp bốn phương trời/ Nay về Tùng Ảnh trong lời mẹ ru” (Ơn Người vì dân); Là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, “tinh hoa của dân tộc anh hùng” (Trở về nơi huyền thoại); Là người nhạc sĩ “Yêu Hà Tĩnh hết mình/ Thấm sâu từng câu hát” (Nhớ nhạc sĩ An Thuyên); Bộ trưởng Trần Hoàn: “Cả huyện chìm trong lũ/ Nhưng bài hát không chìm/ Bác khóc, thương dân đói/ Lay động ngàn con tim” (Một tấm lòng); Nhà thơ Minh Huệ: “Suy đến cùng tinh hoa để lại/ Là thước đo của một con Người” (Còn mãi với thời gian); Nhà thơ Xuân Hoài “Cột mình vào văn chương/ Chấp nhận đời nghiệt ngã” (Bên Anh)…

Cảm xúc tự hào cũng là nguồn thi hứng trong “Tìm nửa của mình”. Đặt chân đến Trường Sa, Đặng Quốc Vinh không nén nổi xúc động: “Giang sơn ta gắn liền biển cả/ Đảo là phần Tổ quốc thân yêu; Một dân tộc chưa bao giờ khuất phục/ Biển đảo này từng thấm máu cha ông” (Giữa biển xanh rực màu cờ đỏ).

Sải bước trên đường phố Hà Tĩnh, chạnh lòng hồi tưởng “Phố trầm tư thưa vắng những bóng người/ Một thị xã gồng mình cho kháng chiến” để rồi bật reo lên niềm vui sướng, tự hào về thành phố hôm nay: “Và phơi phới những tà áo trắng/ Những dòng xe đi giữa đường hoa/ Thành phố mới đang bừng lên sức trẻ/ Ôi tự hào thành phố quê ta” (Thành phố trẻ).

Thị xã Hồng Lĩnh, nơi anh đã nhiều năm gắn bó với cương vị Bí thư Thị ủy, cũng chính là nơi “Voi trời, chim phượng và tiên nữ/ Đã xuống đây rồi ngẩn ngơ say”. Trước một “Thị xã từng ngày sáng bừng lên”, thơ Đặng Quốc Vinh vút lên hào sảng: “Khí thiêng sông núi từ muôn thuở/ Cho ta Hồng Lĩnh của bây giờ” (Hồng Lĩnh vào xuân).

Tôi vốn là người dễ say cái đẹp. Nhiều khi người con gái chỉ đẹp mỗi cái nụ cười duyên: Say! Chân dài năm điểm chạm: Say! Mái tóc tuôn như suối: Say! Cả khuôn hình bình thường nhưng giọng nói tao nhã, ngọt ngào: Say! Tôi thích tìm cái đẹp để say. Khám phá những cái hay để nhớ. Gạt tất cả những cái bình thường khác để nhớ, để say, để thăng hoa cùng ánh lân tinh hiếm hoi trên bờ cát… Đó chính là cảm nhận của tôi khi đến với tập thơ “Tìm nửa của mình”.

Lê Cảnh Nhạc

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).