Đặc sắc mô hình vở chèo cổ “Quan Âm Thị Kính”

Kiệt tác được cấu trúc một cách đặc biệt theo tinh thần của văn hoá trào tiếu dân gian là xây dựng những tình huống "ngược" và "lạ". Một người vợ Thị Kính hiền ngoan, đảm đang, yêu chồng lại bị vu oan thành kẻ giết chồng...

Vở chèo cổ "Quan Âm Thị Kính" toả sáng vào bầu trời văn hoá Việt Nam đã mấy thế kỷ, làm mê đắm, thổn thức hàng triệu trái tim bao thế hệ bởi được thu nhận những ý nghĩa nhân văn tận thiện, tận mỹ. Bởi được xây cất bằng vật liệu tư tưởng về con người của văn hoá dân gian, văn hoá Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo nên đa dạng, nhiều vẻ về cấu trúc hình tượng. Bởi được khúc xạ và tích hợp từ nhiều nguồn mỹ học nên đa nghĩa và phát ra những ánh sáng văn hoá lạ, độc đáo.  

Kiệt tác được cấu trúc một cách đặc biệt theo tinh thần của văn hoá trào tiếu dân gian là xây dựng những tình huống "ngược" và "lạ". Một người vợ Thị Kính hiền ngoan, đảm đang, yêu chồng lại bị vu oan thành kẻ giết chồng.

Cái nguyên cớ bên ngoài là "hiểu nhầm" nhưng sâu xa bên trong là tính cách yếu nhược, nông cạn của người chồng học trò Thiện Sỹ, là tính cách gia trưởng, độc đoán của "nhà chồng" Sùng Ông Sùng Bà cay nghiệt thiếu nhân tính. Giả trai đi tu lại bị vu "mượn màu thiền dở thói mưa mây" mà có con với Thị Màu. "Lạ" ở chỗ Thị Kính "đành chịu tiếng thế tình mai mỉa" mà chịu "phận nữ nhi khôn đường phải trái", "oan thì oan cũng chẳng nói sao".

Nàng cam chịu, nhẫn nhục, vừa đáng thương, vừa đáng trách. Bên cạnh Thị Kính, nạn nhân của tục quyền, thần quyền, thiếu cá tính, dân gian đặt Thị Màu phơi phới một tâm hồn khoẻ khoắn mạnh mẽ. Cũng là cái "lạ đời"…

Một cảnh trong vở chèo cổ "Quan Âm Thị Kính".
Một cảnh trong vở chèo cổ "Quan Âm Thị Kính".

Hai nhân vật đối lập nhau để bật ra cái khát khao xuân tình, cái hừng hực táo bạo đến liều lĩnh của tâm hồn đòi được yêu thương. Từ cái nền "ngược" và "lạ" này, dân gian đã tài tình xây cất một tòa lâu đài nghệ thuật, trong đó nhân vật cũng đều "ngược" và "lạ".

Là sự hợp lưu ánh sáng từ quan niệm lành mạnh, khoẻ khoắn, táo bạo của dân gian; quan niệm từ bi hỷ xả của đạo Phật; từ cái nền nếp khắt khe của Nho giáo nên tác phẩm đã tạo ra những cuộc đổi ngôi nhân vật ngược đời mà vẫn hợp lý. Trong đó nhân vật Thị Kính bị "lộn ngược" một cách triệt để nhất, đau đớn nhất. Bi kịch cuộc đời nàng lại có nguyên nhân khởi đầu là lòng tốt, là tình vị tha.

Tại sao Thị Kính tốt, hiền lành cam chịu như thế mà bị oan, mà oan thảm, oan hai, ba lần? Hạt nhân hợp lý ở đâu? Cái ý bật thoát ra thật sâu sắc: Trong cái xã hội đầy tai ương, đầy mâu thuẫn, phi lý như thế thì người tốt, cái tốt không tồn tại được. Mà muốn cho cái tốt, người tốt tồn tại thì phải thay đổi cả cái xã hội ấy. Đó là việc không thể.

Dân gian biết rõ thế. Mà người tốt cái tốt thì rất cần phải có, nên dân gian đã làm một cuộc hoán vị thân phận mà đổi ngôi cho họ. Đó cũng là một cách trốn tránh cái phi lý ở đời. Thế nên mới thấy tại sao Thị Kính dễ chấp nhận nỗi oan, cái tiếng than của nàng cũng yếu ớt, và chỉ cất lên ít lần, một lần than với mẹ đẻ, hai lần than với cha đẻ (Oan con lắm, mẹ/cha ơi!), một lần than với làng (Trình lạy làng, oan kẻ tu hành này lắm!), một lần than với Sư cụ (Oan con lắm, thày ơi).

Cũng không nhiều lần Thị Kính "độc thoại nội tâm" (hát sử rầu, vãn láy): "Oan này nhẫn chịu, thác rày thời thôi!". Tức chấp nhận nỗi oan đến hết đời, đến chết, cũng tức là chấp nhận sự đổi ngôi thân phận. Từ kiếp gái bị đổi thành kiếp trai rồi kiếp tu hành rồi bị đổi về kiếp đàn ông và kiếp làm cha. Cuối cùng mới được đổi thành kiếp Phật.

Đây vừa là quan niệm nhà Phật "Đời là bể khổ trầm luân!" nhưng cũng là quan niệm "hoá kiếp" nhân ái của tín ngưỡng tình thương (với người Việt trước khi giết con vật gì dù nhỏ cũng nói câu Hóa kiếp mày thành kiếp khác!). Đời người khổ quá nên dân gian "hoá kiếp" cho nhân vật để được sống sung sướng hơn. Quan niệm "Ở hiền gặp lành" trong văn hoá Việt đã gặp gỡ tinh thần "cứu độ" Phật giáo để cùng đưa Thị Kính hóa thân thành Quan Âm trong vòng hào quang thánh thiện của tình người.

Thị Mầu cũng đổi ngôi từ phận nữ nhi con nhà giàu nõn nà xuân tình thành phận gái chửa hoang kinh hoàng, rồi kiếp làm mẹ tủi phận. Từ tính cách trong sáng (lên chùa cầu Phật) đến lẳng lơ (với Tiểu Kính) liều lĩnh ngược đời với "tình yêu" kẻ đi ở (anh Nô), đáo để bất chấp (với làng) rồi trắng trợn (với Tiểu Kính và Sư cụ) là một quá trình nổi loạn của một tính cách chống phá mãnh liệt.

Một mình cô Thị Mầu chống lại cả một xã hội nặng nề ngột ngạt của sự hà khắc cai trị bởi chính quyền, thần quyền, tục quyền… Cô "đổi ngôi" để chống lại, hay vì chống lại mà bị đổi ngôi, cũng là một vấn đề triết học nhân sinh cần bàn sâu. Cũng cần lý giải tương tự, Thị Mầu đáng thương hay đáng trách, đáng giận…?

Nhưng không ai phủ nhận Thị Mầu là một biểu hiện sức sống rờ rỡ, mãnh liệt, đầy cá tính khát khao đổi thay. Đây đích thực là hình tượng nghệ thuật bởi sự vươn lên khỏi cái tầm thường nhợt nhạt. Nó sẽ mãi vĩnh cửu bởi vẻ đẹp, bởi sự đa nghĩa. Thị Kính chủ yếu đối thoại với chính mình, với phận mình còn Thị Mầu đối thoại với cả xã hội, với cả kiếp người. Đối thoại đã tạo ra tầm cỡ hình tượng. Dễ hiểu người đời sau nhắc nhiều đến Thị Mầu hơn là Thị Kính!

Lại có nhân vật được đổi ngôi thân phận từ thấp lên cao. Mẹ Đốp thông minh sắc sảo bao nhiêu thì xã trưởng lại ngu si lố bịch bấy nhiêu. Là vợ của mõ chứ không hẳn là mõ, tức không hề có địa vị gì, thân phận thấp nhất rồi, thế mà "đổi ngôi" thành thầy dạy của Xã trưởng (quyền lực cao nhất làng), sai bảo, bắt bẻ, đe nẹt Xã trưởng, thậm chí còn "đẻ" ra cả Xã trưởng. Đó chẳng phải là một biểu hiện rất đẹp và hợp lý về cái khát khao vươn lên trên quyền lực, sai bảo, chi phối, làm chủ quyền lực của nhân dân lao động đó sao?

Đó là sự mỉa mai quyền lực (thứ quyền lực phản động nằm trong tay kẻ có quyền hành) của người lao động. Trước sức sống phồn sinh phồn thực mạnh mẽ của dân gian thứ quyền lực ấy cũng thật ốm o thảm hại, cũng chỉ là thứ đáng vứt đi mà thôi!

Nhân vật quan lại, cường hào, nhà giàu được miêu tả theo nguyên tắc "thiểu năng" cả ngoại hình lẫn nhân cách. Đó là những nhân vật cụ Đồ điếc, Hương câm, Thầy mù…nhưng lại có quyền quyết định số phận, nhân cách con người (Thị Mầu, Thị Kính). Loại nhân vật này đã bị dân gian vật hoá thảm hại. Là kẻ có quyền mà lại kêu be be như dê (nhân vật Hương câm), là kẻ có oai quyền ngồi trên vai vế người khác, giữa chốn đình làng lại bị kẻ khác ngồi lên vai mình (thầy đồ mù ngồi nhầm lên vai cụ Đồ điếc!)... Rồi các quan "thực…sở thị" bằng cách "sờ" bụng Thị Mầu…Thế là tất cả đều "lộn ngược"!.

Tình huống bị lộn ngược, nhân vật bị đổi ngôi nên ngôn ngữ cũng cùng nằm chung hệ mỹ học ngược này. Thậm chí còn rõ ràng hơn, tiếng cười nhiều hơn, sắc sảo, cụ thể hơn. Ngôn ngữ "dân ngu khu đen" bỗng trở thành minh triết, sáng láng khác thường. Anh cu mõ cũng "trẩy tỉnh lĩnh bằng" (sự thực là đi hầu cụ Bá lĩnh bằng). Vợ mõ ra đình dõng dạc tuyên bố: "Nghề ăn nói tôi vào trang đúng mực"…

Còn khẳng định mình là "tiên chỉ" làng, dẫn đầu làng, nắm quyền phân xử ổn định của làng, tức có địa vị cao nhất: "Một mình tôi cả xã ngóng trông/ Điều phải trái là tôi lên trước bảo…". Mẹ Đốp tự xưng mình là "trang" (trang anh hùng), tức đấng bậc mà mọi người phải vị nể… "Minh triết" ở đây là Mẹ Đốp nói gì cũng đúng , hợp lý cả, không ai bắt bẻ được: "Dù việc sinh hay là việc tử/ Mọi hiệu lệnh một tay tôi nắm giữ …".

Đó là tiếng cười dân chủ, tiếng cười không biết sợ. Nhân dân lao động đã gửi vào ngôn ngữ Mẹ Đốp (một hình thức của ngôn ngữ hề chèo) khát vọng công bằng. Chỉ có trên sâu khấu chèo người dân nghèo nhất mới có thể sai khiến được kẻ cường hào, bắt chúng làm kẻ đầy tớ. Tiếng cười của hề san phẳng các ngăn cách đạo lý, luân lý để đưa tất cả trở về với sự tự do tuyệt đối. Trái ngược hẳn với tính minh triết này, ngôn ngữ bọn quan lại cường hào luôn bị đặt trong xu hướng "rối loạn", sa vào tình trạng nhại, nhầm lẫn.

Thế nên tất cả đám nhân vật này đều bị "mất ý thức". Trong đối đáp với Mẹ Đốp, nhân vật Xã Trưởng bị lép vế đến mức nói gì cũng sai cả, lão ta chống chế lại bằng tiếng quát vô hồn "Láo!", "Chỉ láo!", "Con mẹ này chỉ láo"… Tiếng "láo" bị lặp tới 10 lần nói lên tính chất cơ giới, máy móc của nhân vật…

Đậm đà một tinh thần nhân văn, khát khao một tinh thần dân chủ, cháy bỏng một khát vọng yêu và được yêu, sâu sắc một tinh thần nữ quyền, vở chèo là một viên ngọc văn hoá toả sáng vào cả tương lai góp phần làm rạng rỡ thêm bản sắc Việt.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).