Đa nghĩa biểu tượng cung tên!

Xuất hiện từ thời nguyên thủy, cung tên được các nhà khảo cổ học tìm thấy những bằng chứng xưa nhất tại hang Sibudu (Nam Phi). Các đầu mũi tên bằng đá được tìm thấy có niên đại từ 70.000 đến 65.000 năm trước Công nguyên (TCN).

Các dấu tích lâu đời nhất về việc sử dụng cung tên có niên đại khoảng 12.000 năm (TCN) với những mũi tên bằng gỗ thông và đá lửa có ở thung lũng Ahrensburg (Đức). Những chiếc cung cổ có chiều dài từ 150 cm - 170cm còn nguyên vẹn từng được tìm thấy ở vùng Holmegaard (Đan Mạch)…

image001.jpg -0
Cung tên cổ phương Tây!

Qua nghiên cứu hình dáng, lịch sử cung tên, giới nghiên cứu vũ khí khẳng định thời nguyên thủy con người dùng cung tên để săn bắn động vật. Có thể ra đời sau các vật phóng mang tính truy sát như lao, giáo… khi xung đột giữa các bộ tộc xảy ra thì cung tên nhanh chóng được sử dụng cho mục đích chiến trận. Khoảng từ những năm 5.400 (TCN), cung tên là vũ khí chủ yếu trong các cuộc giao tranh. Theo nhiều nghiên cứu quân sự thì những pháo đài trên đỉnh đồi ở nước Anh vẫn còn dấu tích của các cuộc tấn công phối hợp bắn cung.

Thần thoại Hy Lạp-La Mã mượn cái hoang đường, kỳ ảo để triết lý về sự thật cuộc đời. Như là chuyện về thần tình yêu Éros. Thuở hồng hoang ấy còn chưa có ngày và đêm, và các vị thần ở trên đỉnh Ôlanhpơ vẫn mỗi người một công việc. Là đứa trẻ ba tuổi, thần Éros bay trên trời với đôi cánh trắng muốt, dùng cung tên bằng vàng để bắn vào những trái tim đang phập phồng yêu đương. Chàng trai cô gái nào đến tuổi cập kê mà được mũi tên của thần bắn vào tim thì người đó sẽ thổn thức sung sướng vì sẽ được yêu.

Một hôm thần Tình yêu mới chợt nghĩ sao không “xe duyên” vợ chồng cho Thần Mặt trăng dịu dàng với Thần Mặt trời mạnh mẽ. Nghĩ vậy, thần giương cung tên. Mũi tên tình yêu trúng trái tim Thần Mặt trăng. Thần quay lại giương cung hướng về phía Thần Mặt trời. Nhưng vì mới ba tuổi mải ăn mải chơi, mũi tên trúng ngay vào trán. Thần Mặt trời giận dữ, máu trên trán phun ra loang đỏ cả người. Không được đánh thức tình yêu nên Thần Mặt trời nóng nảy bỏ đi. Thần Mặt trăng ngược lại, được yêu nên đuổi theo Thần Mặt trời. Họ cứ đuổi theo nhau mãi mãi mà không bao giờ gặp được nhau nhưng từ đó tạo hóa mới có ngày và đêm. Và cũng từ đó người ta thường tỏ tình dưới ánh trăng êm đềm chứ không thấy ai tỏ tình dưới ánh mặt trời nóng nực. Cũng từ đó những cặp yêu nhau cũng như được “bay” trên trời như vị thần trong trắng của mình vậy…

Cái triết lý quan trọng nhất phải chăng lại là chuyện khác: từ xa xưa người ta đã mong ước lấy vũ khí giết người để làm phương tiện yêu thương con người. Chả thế mà mũi tên trong thần thoại này bắn vào tim không làm người chết mà làm người biết yêu. Tại sao lại bắn vào tim? Vì yêu bằng con tim chân thành (chứ không phải dạ dày chẳng hạn!). Nhưng nhân loại tiến bộ hơn thì hình như cũng độc ác hơn, thế nên trong “Iliat” và “Ôđixê” anh hùng Asin lại chết vì mũi tên độc bắn vào gót chân. Và sau này thì các cuộc chiến tranh thời trung cổ con người luôn dùng cung tên làm vũ khí để tàn sát nhau.

Xin một bổ sung: trong thần thoại Ấn Độ, thần Ái tình (Kâma) là 5 mũi tên biểu trưng cho 5 giác quan. Chắc là muốn nhắn nhủ con người phải yêu nhau trọn vẹn, hết mình (sâu sắc, như tên bắn) bằng cả 5 giác quan (!?). Với sự liên tưởng phong phú, cung tên và hành vi bắn có đầy đủ các hiện tượng, hành vi: sự căng, sự chùng, sự phóng gần gũi với hành vi tính giao nên trong thần thoại Hy Lạp cổ coi mũi tên như một linga (dương vật)…

Theo truyền thuyết Trung Quốc, vợ chồng Hậu Nghệ - Hằng Nga là những vị thần bất tử sống trên thượng giới. Mười người con trai Ngọc Hoàng nghịch ngợm biến thành mười mặt trời, làm cho mặt đất trở nên nóng bỏng. Để cứu trần gian Hậu Nghệ lấy cung bắn hạ chín mặt trời, chỉ để lại một. Ngọc Hoàng tức giận đày Hậu Nghệ và Hằng Nga xuống hạ giới.

Như vậy biểu tượng cung tên vô vàn sự đa nghĩa đã có rất lâu rồi, dân tộc nào cũng có, cuộc chiến tranh nào (cho đến khi chiến tranh hiện đại, tận thế kỷ XIX) cũng sử dụng. Ở nước ta thì có mũi tên đồng (từ cây nỏ) trong truyền thuyết An Dương Vương bắn kẻ xâm lược. Chàng Thạch Sanh hiên ngang trong cổ tích giương cung bắn đại bàng hay loại trừ cái độc ác, cái phản động cứu công chúa cũng là cứu cái đẹp, cái tốt, cái giàu sang, vương giả!

Là loại vũ khí cổ xưa đơn giản mà rất hiệu quả trong việc sát thương đối phương, cấu tạo cung gồm cánh cung, dây cung và mũi tên. Thuở ban đầu cánh cung và mũi tên được làm bằng các vật liệu như tre,gỗ; dây cung được bện bằng da, gân, ruột thú… Châu Á thời trung cổ, theo nhiều sử sách, cây cung thường được làm bằng gỗ cây dâu, mũi tên làm bằng cỏ bồng. Ngày nay vẫn còn thành ngữ cổ “Tang bồng hồ thỉ” thì “tang” là cây dâu; “bồng” là tên một loại cỏ tức cỏ bồng; “hồ” là cây cung và “thỉ” là mũi tên. “Tang hồ bồng thỉ” chỉ cây cung làm bằng cành dâu, mũi tên làm bằng cỏ bồng để nói về chí kẻ làm trai. Ở châu Âu cung tên được làm bằng gỗ thông đỏ, đầu mũi tên bịt sắt, đuôi gắn lông chim để chỉnh đường bay.

image003.jpg -1
Tranh minh họa Kỵ binh Mông Cổ!

Theo lối chiết tự chữ Hán thì chữ “trung” nghĩa là giữa, mang hình tấm bia có mũi tên xuyên vào giữa. Tức cung tên rất được coi trọng, vừa mang nghĩa trung tâm, vừa mang nghĩa tấm lòng. Chữ “hầu” chỉ phẩm tước cao quý (hầu tước) có hình chữ “thỉ” biểu hiện mũi tên hướng về phía chiếc bia. Người phương Đông cổ coi trọng “võ dũng”, trong đó thủ lĩnh dứt khoát phải giỏi bắn cung tên (thiện xạ). Bắt đầu được sử dụng rộng rãi vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, cung tên được xem là binh khí hàng đầu.

Thời nước Ngụy, bắn cung tên được coi trọng đến mức lấy làm căn cứ để xác định thắng thua trong hình luật. Khi hai người tranh chấp đưa nhau ra tòa, quan tòa xử bằng cách đưa đến trường bắn cung thi, người bắn giỏi hơn được coi là bên thắng kiện. Người xưa coi bắn cung vừa là võ thuật vừa là chiến thuật. Trong binh pháp của Trần Hưng Đạo, phần “Phép bố trận tác chiến” ghi lại: Mỗi khi đánh thì cho giáo trường ở trước, ngồi mà không được đứng lên. Thứ đến cung rất mạnh, rồi đến nỏ rất mạnh, quỳ gối để chờ.

Sức lan tỏa của cung tên còn lan sang cả văn hóa đạo đức. Nho gia quan niệm bậc sĩ phu phải tinh thông vì đó là phương pháp tu thân dưỡng tính của người quân tử. Đây là một quá trình suy ngẫm, tích lũy để trưởng thành. Bắn cung thành công hay thất bại nằm ở chỗ có điều chỉnh được thân và tâm của mình hay không. Trong “Lễ ký” còn nói “bắn mà không trúng, tự xét lại mình”. Trong “Luận ngữ”, Khổng Tử nói: “Quân tử vô sở tranh, tất dã xạ hô” (Quân tử không tranh đua với ai, nếu có chỉ nên đua bắn cung).

Như vậy cung tên dùng trong chiến đấu, võ thuật, trong thể thao, trong rèn luyện đạo đức, còn làm phương tiện đối thoại. Các phim cổ trang phương Đông vẫn có hình ảnh ngoài trận tiền, các bên giao chiến dùng cung tên bắn thư cầu hòa hay thách thức. Các chàng công tử dùng cung bắn tên kẹp lá thư tình gửi các cô gái cấm cung trên lầu cao. Hầu như ở mọi nền văn hóa, biểu tượng cung tên được nhấn mạnh hơn ở nghĩa tinh thần. Ở Ấn Độ cổ nó gắn liền với các nghi lễ thụ phong hiệp sĩ. Ở Nhật Bản, ngoài là phương tiện chính để rèn luyện võ thuật, còn là thước đo của phẩm chất võ sĩ.

Cây cung nặng thế nào? Trong “Lịch triều hiến chương loại chí” (phần “Binh chế chí”) Phan Huy Chú mô tả các cuộc thi võ thì giương cung “bằng 55 cân (tức 33,25kg ngày nay), hoặc 45 cân (tức 27,2kg), phải giương đẫy sức... Bắn bộ thì dựng cái đích cách 80 bước (tức 160m)”. Soi vào sử thi “Ôđixê” của Hômerơ thì cung thời cổ đại có vẻ nặng hơn. Trong đoạn Uylitxơ trở về đánh bại 108 kẻ cầu hôn vợ, có chi tiết nhà Uylitxơ loan báo ai giương nổi cây cung và bắn một phát xuyên qua lỗ của 12 chiếc rìu sẽ được lấy Pêlênốp làm vợ. Tất cả số cầu hôn không ai giương nổi. Uylitxơ xuất hiện cầm cung và giương nhẹ nhàng rồi bắn trúng vào đích. Chàng cởi bỏ trang phục giả dạng cùng con trai trừng trị bọn cầu hôn đểu giả…

Tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa” tôn xưng ba tướng quân bắn cung giỏi nhất là Hoàng Trung, Triệu Vân, Lữ Bố, trong đó Hoàng Trung đứng đầu với phát bắn trúng vào đỉnh mũ giáp của Quan Vũ khi cả hai đang cưỡi ngựa tốc độ cao. Quả là kỳ tài. Đây là phát bắn cung trả ơn Quan Vũ đã không giết Hoàng Trung trước đó.

Hình như văn minh hôm nay vẫn chưa vượt được thời xưa, sau nhiều cải tiến, vũ khí tên lửa hiện đại lại quay về mô hình mũi tên ngày trước!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).