(Tiểu thuyết lịch sử “Đinh Tiên Hoàng” của Vũ Xuân Tửu, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2020)

Cuốn sách đồ sộ về triều đại nhà Đinh

Trước khi viết tiểu thuyết “Đinh Tiên Hoàng”, nhà văn Vũ Xuân Tửu đã có dịp thử bút đề tài tiểu thuyết lịch sử  bằng cuốn “Chúa Bầu” với nhân vật chính là Gia Quốc Công Vũ Văn Mật thời Lê – Mạc. Vì ít tài liệu thành văn liên quan, cho nên ngòi bút của nhà văn tự do, tung tẩy hơn. Tuy vậy vốn cẩn trọng, nhà văn đã bỏ công khảo sát, điền dã vùng Tây Bắc, Nghệ An, Hải Dương và Thành Nhà Bầu ở bến Bình Ca, Tuyên Quang.

Rất nhiều nhà văn đã viết tiểu thuyết lịch sử theo các cách khác nhau. Người thì coi lịch sử là cái đinh để “treo bức tranh” của riêng mình. Người thì chọn cách viết để “giải mã” lịch sử. Người khác nữa thì lấp đầy những khoảng trống hay làm sáng tỏ những điều còn mù mờ. Người khác nữa thì viết theo kiểu thám hiểm lịch sử…

untitled-4.jpg -0

 Bìa cuốn tiểu thuyết “Đinh Tiên Hoàng” của nhà văn Vũ Xuân Tửu.

Nhà văn Vũ Xuân Tửu không nói mình chọn cách viết kiểu nào, mà chỉ nói là xây dựng ba nhân vật trung tâm và hàng chục nhân vật chính. Với mong muốn “thông qua bức tranh lịch sử xa xưa, để cố gắng nói được điều gì đó với thời nay” (Lời nói đầu).

Dù không nói ra, nhưng mọi người tin rằng không phải ngẫu nhiên mà nhà văn lại chọn nhân vật Đinh Tiên Hoàng và triều đại nhà Đinh. Ngoài những lí do về vai trò của triều đại và nhân vật, còn có một lí do khác. Như nhà sử học Dương Trung Quốc đã viết: “Chọn để viết về đề tài này, hẳn cũng là cách thể hiện niềm tự hào thầm kín của một nhà văn được sinh ra “nơi ngã ba sông dưới chân núi Non Nước”, mà ngày nay đã nằm trong một không gian Di sản Thiên nhiên và Văn hóa Tràng An, vừa được thế giới công nhận”. (Tiểu thuyết Đinh Tiên Hoàng “Nói được điều gì đó cho thời nay…” Văn Học Sài Gòn 19/02/2020).

Nói cuốn tiểu thuyết đồ sộ không chỉ bằng số trang in, số chương và cả số chữ của nó. (672 trang khổ 14,5 x 20,5, năm phần 42  chương, bản thảo lần thứ 9 = 144.540 chữ). Mà còn vì sự bao quát về thời gian khoảng hơn 30 năm từ khi Đinh Tiên Hoàng dấy binh dẹp loạn, cho đến khi kết thúc triều Đinh, Lê Hoàn lên ngôi, lập Dương thị làm Đại Thắng Minh Hoàng hậu. Nhưng về lịch sử thì phải kể hơn 100 năm khi Ngô Quyền ra đời vào năm Mậu Ngọ (898) đến khi Phó vương Lưu Cơ qua đời, khoảng  năm Quý Sửu (1013). Có chừng dăm chục nhân vật của thời  bấy giờ. Mười hai sứ quân chỉ được “Đại Việt Sử kí toàn thư” kể họ tên và vùng đất chiếm cứ, nhưng đã được nhà văn viết 14 chương, từ chương 8 “Nương tựa Trần Công” đến hết chương 21 “Trận cuối, Vạn Thắng Vương đánh dẹp Bình Kiều”. Mười hai trận đánh mỗi trận một cách, đối thủ cũng mỗi người mỗi tính, mỗi tài. Đây là chỗ nhà văn đã sử dụng hiểu biết và trí tưởng tượng cho bạn đọc thấy tài dùng binh của Đinh Bộ Lĩnh.

Từ trước đến nay, khi đánh giá tiểu thuyết lịch sử, dù mọi người thống nhất rằng nhân vật văn học không phải là nhân vật trong chính sử hay dã sử. Nhưng dù muốn, dù không người ta vẫn xem xét mức độ “sáng tạo” của nhà văn so với chính sử. Sự phê phán gay gắt hay tranh cãi thường là ở điểm mấu chốt này: Nhân vật văn học có như sử sách đã chép không? Có bị bóp méo không? Có bị “xuyên tạc” không? Có trái với những điều mà mọi người đã thừa nhận một cách mặc định hay không? Tóm lại là nhà văn được quyền hư cấu, sáng tạo, nhưng không phải là tuyệt đối, mà vẫn phải phù hợp với lịch sử.

Mặc dù viết về nhiều nhân vật, nhưng theo tôi thì các nhân vật chính trong tiểu thuyết “Đinh Tiên Hoàng” không có nhân vật nào bị bóp méo hay xuyên tạc. Ngay chuyện Đinh Hoàn mò được Ngọc Khuê, táng vào huyệt thiêng hài cốt của bố mình (thật ra là da và chút xương rái cá) rồi đeo hai thanh kiếm vào cổ ngựa đá; khi bị chú đuổi thì được rồng đưa qua sông,…nhà văn dùng giai thoại dân gian có tính huyền bí để nói lên tài năng khác thường của Đinh Bộ Lĩnh. Điều đó đã được dân chúng thừa nhận chỉ làm tăng tính hấp dẫn của tiểu thuyết. Mà cũng không ai nghĩ đến chuyện đem tinh thần khoa học để soi và phản bác.

Một chi tiết nhỏ là tên nước “Đại Cồ Việt”. Đã có người băn  khoăn là sao lại nửa Hán nửa Nôm. Nhà văn cũng đã đọc tài liệu có giải thích Cồ là viết tắt của “Cồ Đàm Ma”, họ của Đức Phật Thích Ca, và đưa cho nhân vật Ngô Chân Lưu giảng là nước Việt to lớn theo đạo Phật! (tr. 475). (Việc nhà vua phong chức Tăng thống cho hòa thượng Ngô Chân Lưu, việc Đinh Liễn cho tạc 100 cột kinh Phật, sau này các nhà khảo cổ đã tìm thấy, chứng tỏ nước Việt của nhà Đinh theo đạo Phật và cách giải thích quốc hiệu là hợp lí).

Chúng tôi cho rằng tuy tác giả nói chú trọng 3 nhân vật trung tâm, nhưng Lê Hoàn và Dương thị khá mờ nhạt. Lê Hoàn kín tiếng, không xuất hiện nhiều. Còn Dương thi thì chỉ nổi bật ở cơn ghen hoa quỳnh mà thôi. Đinh Bộ Lĩnh là nhân vật nổi bật với tài năng quân sự và cách ứng xử linh hoạt trong mọi tình huống. Nhà văn đã mô tả Đinh Bộ Lĩnh là “nhân vật thông minh xuất chúng, bản lĩnh cao cường, nhưng cũng không tránh khỏi lầm lỡ” và “tuy có học hành, tập ấm, nhưng mang tính cách nông dân, tuy đa mưu túc kế, nhưng cũng chất phác, nhẹ dạ, cả tin” (Lời nói đầu). Hai chi tiết nhỏ nhưng chứng tỏ vị vua gốc nông dân.

Khi các vị thân cận bàn đặt tên kinh đô Hoa Lư, liên quan đến lau, cổng làng, lò hoa, đồ nấu cơm có hoa, đồ đựng lúa, lại cũng có nghĩa nữa là mõm con lừa, nhà văn để cho Hoàng đế quyết: “Cứ có hoa, có cơm là được rồi, lừa ngựa gì cũng mặc” (tr. 367). Khi trách mắng Đinh Liễn về tội sát hại em trai là Hạng Lang,  Hoàng đế nói: “Tao biết hết cả rồi, không phải lắm lời. Mày vẫn thói ghen ăn tức ở thôi. – Hoàng đế mắng – mày là anh nó, dưới tao là mày. Còn cái chức Thái tử ban cho trẻ con để nó vui, chứ làm gì?” (tr. 554). Không rõ việc lập Thái tử cho Hạng Lang có phải là sai lầm của nhà vua, muốn lấy lòng Ngô bà và con rể Ngô Nhật Khánh hay không. Nhưng khi nhà vua mắng Đinh Liễn thì thật thuyết phục!

Trong các nhân vật khác, thì Đinh Điền khá nổi bật với tính bộp chộp, phổi bò, thấy sao nói vậy. Nguyễn Bặc chín chắn giỏi giang, Lưu Cơ học rộng, xứng là quân sư. Còn Đinh Liễn thì đúng là cậy thế con trưởng, từng làm con tin, từng chinh chiến lập công nên cũng có tính tự phụ, có chút ngông nghênh. Nhân vật  Đinh Thúc Dự và nhân vật Lão bộc cũng khá rõ nét.

Có thể nói, nhà văn đã dựng lại một bức tranh lịch sử hùng tráng thời đó. Tác giả không dùng các thủ pháp tân kì, cũng không dùng kĩ thuật huyền ảo, hay thủ pháp tâm linh; mà viết bằng văn phong giản dị, theo kiểu truyện kể dân gian có pha giọng văn kể chuyện của tiểu thuyết chương hồi. Nhà vua Đinh Tiên Hoàng  với tất cả những phẩm chất được chép trong chính sử, được truyền tụng trong các giai thoại dân gian đã hiện lên thật sinh động cùng với các tướng lĩnh và triều đình của mình.

Chúng tôi thấy cần trao đổi thì có lẽ là việc cho Đinh Liễn đi sứ sang Bắc Tống ở chương 31.  

“Đại Việt sử kí toàn thư”, (trọn bộ, Nhà xuất bản Hồng Đức, 2020), chép: “Nhâm Thân, năm thứ 3 [972] (Tống, Khai Bảo năm thứ 5). Sai Nam Việt Vương Liễn sang thăm nhà Tống (1).

Quý Dậu, năm thứ 4 [973] (Tống, Khai Bảo năm thứ 6). Nam Việt Vương Liễn đi sứ về, nhà Tống sai sứ sang phong cho vua làm Giao chỉ quận vương, Liễn làm Kiếm hiệu Thái sư Tĩnh Hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ” (trang 158).

Chú thích số 1: “Toàn thư và Cương mục chép năm Khai Bảo thứ 3, Đinh Tiên Hoàng sai con là Nam Việt Vương Liễn sang sứ nước Tống. Tống sử không chép việc này. Lấy lí mà suy thì sau khi đã báo cáo với Tống là nhường ngôi cho Liễn ở năm Khai Bảo thứ 2, không có lí đến năm sau lại phái Liễn đi sứ. Vậy việc này sử ta chép sai; không có việc Đinh Liễn sang sứ nước Tống. (Tài liệu Đại Việt sử kí toàn thư”, trang 158).

Như vậy Đinh Liễn không hề đi sứ! Tuy nhiên việc cho Liễn đi sứ cũng không ảnh hưởng nhiều đến nhân vật này. Mà chương 31 khá sinh động, bộc lộ rõ tính cách của Đinh Liễn và khả năng sáng tạo của tác giả. Phải chăng đó là dụng ý của người viết?

Khi nêu việc Trịnh Tú đi sứ sang Tống, tác giả để cho Lưu Cơ, người giỏi chữ nghĩa đọc bài thơ “Sửa soạn dâng rượu” (Tương tiến tửu của Lý Bạch) mà lại đọc bản dịch của Ngô Tất Tố thì… thật ngược lịch sử. (trang 526). Lẽ ra ông ta phải đọc nguyên văn chữ Hán, rồi chú thích bằng bản dịch của nhà văn họ Ngô ở thế kỉ 20 cho bạn đọc ngày nay!

Tác giả đã kì công điền dã và xử lí tư liệu. Các năm xảy ra sự kiện đều ghi  tên năm rồi mở ngoặc ghi năm bằng số. Ví dụ Ất Sửu (965), Đinh Mão (967)…Các tên thành, tên đất, tên sông, tên núi đều chú thích cặn kẽ. Thế nhưng điều cần chính xác và chi tiết thì lại bỏ qua. Chỉ ghi “Sử chép”. Sử nào? Chúng ta có “Đại Việt sử kí toàn thư”, (Toàn thư) và “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (Cương mục),…thiết nghĩ cần chú rõ.

Một chi tiết khác liên quan đến Đỗ Thích. Thích bị băm nát, hai thùng xương thịt đem đổ xuống ao Giải, chuồng Hổ. Sau đó dân chúng căm thù phá nát núi Đỗ Thích là đủ. Đưa thêm chi tiết “Dân kinh thành Hoa Lư đã nhanh chân xúm vào tranh nhau bốc, mỗi người được một nhúm to bằng viên chả băm. Ai nấy cùng ăn sống nuốt tươi cho hả giận, khiến mồm mép chân tay đỏ lòm những máu là máu”. (trang 572). Không rõ nhà văn có bị ảnh hưởng bởi truyện “Thuốc” của Lỗ Tấn hay không, nhưng chi tiết này khá phản cảm!

Tiểu thuyết “Đinh Tiên Hoàng” của nhà văn Vũ Xuân Tửu được Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam trao Giải A, Giải thưởng văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Đồng thời, Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cũng trao Giải thưởng Liên hiệp văn học nghệ thuật cho tiểu thuyết này. Cuốn tiểu thuyết cũng được “Đề án bảo tồn, phát huy giá trị tác phẩm văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam” tài trợ in 2.450 cuốn. Thật là một thành công xứng đáng với tâm huyết của nhà văn.

Vũ Nho

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).