Đọc "Thăng hoa Sáng tạo và Thẩm mĩ tiếp nhận Văn chương" của Nguyễn Ngọc Thiện, NXB Hội Nhà văn, 2018

Cuốn sách để đời của một đời văn

Bảy mươi tuổi, làm tuyển tập, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà giáo, nhà báo Nguyễn Ngọc Thiện gộp vào cuốn sách ba mảng lớn theo các thể tài mình dụng bút là Tiểu luận và nghiên cứu, Phê bình và Chân dung một số nhà lí luận phê bình.

Hơn 800 trang sách khổ lớn  (16 x 24 cm), bìa cứng, trình bày trang nhã, với nội dung phong phú gồm hơn 100 bài viết của tác giả gần nửa thế kỉ chuyên làm nghiên cứu, phê bình, kèm lời bạt của nhà văn Ma Văn Kháng, với phụ lục chi tiết 7 cuốn sách in riêng, chủ biên 21 cuốn sách, in chung trong 49 cuốn khác; những tấm ảnh đánh dấu cuộc đời học tập và nghiên cứu; tiểu sử tự thuật; thư mục nghiên cứu về tác giả  đã làm cho cuốn sách xứng đáng là tác phẩm để đời của một đời văn.

Bảy mươi tuổi, làm tuyển tập, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà giáo, nhà báo Nguyễn Ngọc Thiện gộp vào cuốn sách ba mảng lớn theo các thể tài mình dụng bút là Tiểu luận và nghiên cứu, Phê bình và Chân dung một số nhà lí luận phê bình.

 Không giống các đồng nghiệp khác vừa viết nghiên cứu, phê bình vừa làm thơ, viết kí (GS Hà Minh Đức, GS - TS Lê Văn Lân); vừa viết nghiên cứu, phê bình vừa viết truyện ngắn (GS - TS Nguyễn Thanh Hùng); hoặc vừa viết nghiên cứu, phê bình vừa dịch thuật (GS - TS Trần Đình Sử), PGS - TS Nguyễn Ngọc Thiện chỉ nhất tâm, chuyên chú độc canh trên cánh đồng lí luận phê bình. Nguyên việc dựng chân dung gần 40 nhà lí luận phê bình văn học cũng cho thấy sự ý thức cao về nghề nghiệp; lòng kính trọng những bậc trưởng thượng, bậc thầy, bậc đàn anh và đồng trang lứa trong cái lĩnh vực “khó nhằn” mà anh đã dấn thân.

Riêng một việc đọc cho hết những công trình, bài báo của mỗi người (mà số lượng thì phần lớn có thể khái quát một câu là “thiên kinh vạn quyển”); rồi suy ngẫm đánh giá  những đóng góp riêng của họ đã là một việc hết sức công phu mà nếu không có sự chịu khó, cẩn trọng và tôn trọng, say mê thì cũng khó mà làm nổi.

Có thể nói, đây là một đóng góp quan trọng của Nguyễn Ngọc Thiện mà trước đó chưa có ai làm. Viết chân dung các nhà nghiên cứu lí luận phê bình, Nguyễn Ngọc Thiện có dịp bày tỏ tấm lòng nhân hậu và ấm áp; đồng thời anh cũng có cơ hội bay bổng trong những cảm xúc thăng hoa, nhất là đối với những người thầy, người anh gần gũi ở Đại học Tổng hợp, ở Viện Văn học.

Cũng chính ở đây, người đọc thấy tác giả là người khiêm tốn học hỏi, nặng tình nặng nghĩa với những người đã trực tiếp làm việc, trực tiếp dìu dắt anh trên con đường dài theo đuổi việc viết nghiên cứu lí luận, phê bình văn chương. Và một cách vừa trực tiếp vừa gián tiếp, nhà nghiên cứu đã học tập, tích lũy kinh nghiệm, bồi đắp kiến văn để tiếp nối công việc một cách hiệu quả.

Những năm tháng may mắn của cuộc đời học tập, công tác giúp cho Nguyễn Ngọc Thiện tiếp xúc và học hỏi những điều “căn cốt” của một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp tâm huyết, chí thú với công việc, tạo lập một tư duy khách quan, độc lập, thực chứng.

Điều đó đã được thể hiện nổi bật và nhất quán trong hai phần “Tiểu luận và nghiên cứu” và “Phê bình” của tập sách. Tôi thích các bài viết phóng khoáng xen nhiều kỉ niệm riêng và  thấm đẫm những tình cảm cá nhân trong các bài viết “Bài học về tư duy thực chứng và đối thoại trong nghiên cứu văn học từ một người Thầy” (về GS Đinh Gia Khánh), “Thầy chủ nhiệm Hà Minh Đức”, “Nam hữu kiều mộc” (về nhà nghiên cứu Nam Mộc), “Chữ “Nhẫn” với Nguyễn Phúc”, “Người đồng nghiệp đi trước, người láng giềng thân thiết” (về GS Phong Lê).

Được học tập ở Trường Đại học Tổng hợp, một trường danh tiếng của nước ta; tốt nghiệp được về công tác ở Viện Văn học, một cơ quan nghiên cứu hàng đầu; qua Cộng hòa Dân chủ Đức tu nghiệp ở Trường Đại học Tổng hợp Karl Marx, lại về công tác ở Viện Văn học, rồi Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, Nguyễn Ngọc Thiện có cơ hội và điều kiện lí tưởng để thực hiện công tác nghiên cứu, phê bình của mình. Và anh đã biến những cơ hội và điều kiện ấy thành những sản phẩm chất lượng cao.

45 bài nghiên cứu và tiểu luận ở phần thứ nhất là kết quả những năm bền bỉ theo đuổi sự nghiệp của Nguyễn Ngọc Thiện. Một phần quan trọng trong số các  tiểu luận trên, tác giả dành cho việc tìm hiểu đường lối văn nghệ của Đảng, đặc biệt là việc nghiên cứu Đề cương văn hóa Việt Nam, ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa văn nghệ của đất nước.

Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu đã dày công phác họa bức tranh toàn cảnh về Lí luận phê bình văn học Việt Nam 1930-1945, Lí luận phê bình văn học Việt Nam 1945 -1954, Diện mạo mới của sự phát triển lí luận phê bình văn học Việt Nam 1945-1975.

Trong nhiều bài viết có dung lượng ngắn dài khác nhau, với các mục đích khác nhau (tham luận hội thảo, chủ biên sách, viết cho tạp chí, nghiên cứu độc lập đưa vào sách in riêng…) chúng tôi đặc biệt ấn tượng với các bài viết công phu có tính học thuật và khái quát cao, phục vụ thiết thực cho việc nghiên cứu và đóng góp tích cực vào đời sống lí luận phê bình.

Đó là các bài viết “Nhìn lại cuộc tranh luận nghệ thuật 1935-1939”, “Sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết hiện đại và lí luận tiểu thuyết hiện đại ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX”, “Vấn đề người đọc - tiếp nhận trong lí luận tiểu thuyết ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX cho đến nay”, “Tiểu thuyết hướng nội trong văn xuôi Việt Nam hiện đại”, “Nghiên cứu sáng tác của Vũ Trọng Phụng trong tiến trình văn học dân tộc - hiện đại thế kỉ XX”. Những bài viết này  thể hiện độ chín của ngòi bút, sự nhuần nhuyễn những phương pháp nghiên cứu khoa học và kĩ thuật trình bày, những thăng hoa sáng tạo của tác giả.

Phần thứ hai của cuốn sách với nhan đề là “Phê bình” gồm 21 đề mục tập hợp những bài phê bình văn học, trong đó có 13 lời bình ngắn cho truyện ngắn và 9 bài viết về nhà văn Ma Văn Kháng. Chuyển sang địa hạt phê bình, ngòi bút của tác giả tung tẩy hơn, tính chất hàn lâm không đậm như ở phần “Tiểu luận và nghiên cứu”.

Nhưng ở đây vẫn nhất quán một tinh thần Nguyễn Ngọc Thiện là tỉ mỉ, thực chứng, và luôn luôn trân trọng những tác giả mà mình dụng bút. Văn phê bình của Nguyễn Ngọc Thiện là văn của người nghiên cứu khoa học. Anh không viện dẫn ông nọ, nhà kia, trường phái này khác của thế giới mà nói như nhà văn Ma Văn Kháng đánh giá “Cái tài của anh là cái tài ẩn mình trong sự giản dị” (PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện - con người như tên gọi).

Ở đây, phẩm chất của người viết phê bình có nghiên cứu cũng thể hiện khá rõ. Mặc dù bài viết đầu tiên, tác giả viết về thơ của nhà thơ nổi tiếng Phạm Tiến Duật, rồi cũng có viết về thơ Hoàng Kim Dung, thơ Mai Văn Phấn, nhưng anh nhận ra có lẽ viết về thơ không phải là sở trường, cho nên anh tập trung bút lực vào mảng văn xuôi.

Và trong nhiều tác giả văn xuôi của văn chương Việt Nam đương đại, anh chọn một nhà văn để nghiên cứu, viết phê bình chuyên sâu là nhà văn Ma Văn Kháng. Quả là không sai khi đồng nghiệp, học trò gọi anh là “Nhà Ma Văn Kháng học”. Những bài phê bình của người viết được chính nhà văn tri ân không phải người viết phê bình nào cũng có thể có được.

Nhà văn Ma Văn Kháng coi anh là người “dấn thân hết lòng vì bạn bè” và đánh giá anh rất cao không chỉ các bài viết về ông, mà cả một đời nghiên cứu: “Nguyễn Ngọc Thiện là một nhà nghiên cứu văn học trong tinh thần khoa học nghiêm túc, cẩn trọng, rất đáng khâm phục và tin tưởng” (Lời bạt, đã dẫn).

Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoa, người cùng tu nghiệp ở Đức, người dịch thơ Đức và cùng với Nguyễn Ngọc Thiện biên soạn “Tuyển tập thơ văn xuôi Việt Nam và nước ngoài” đã viết về 4 nhà trong một Nguyễn Ngọc Thiện. Đó là nhà nghiên cứu lí luận viết lí luận phê bình, nhà giáo đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ, nhà báo công bố bài đều đặn trên các báo, tạp chí và nhà quản lí. Tôi thấy rằng bốn nhà ấy đoàn kết hỗ trợ nhau, nâng đỡ nhau làm nên tên tuổi nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện chuyên viết nghiên cứu phê bình.

Trong bài viết nhan đề “Phê bình văn học - Bạn đồng hành cùng người đọc và nhà văn”, Nguyễn Ngọc Thiện có viết:

“Phê bình văn học đích thực là một nghề chuyên môn loại biệt, không phải ai làm cũng được, mà người cầm bút phê bình phải tự xét mình, một khi hội đủ các điều kiện (kiến thức, năng khiếu và tài năng, sự thành thật và dũng cảm…) mới nên dấn thân, chung thủy với sự nghiệp phê bình” (Tuyển tập, trang 139). Tôi nghĩ đó là điều Nguyễn Ngọc Thiện rút ra từ chiêm nghiệm cuộc đời cầm bút của mình, và đó cũng là điều anh muốn gửi gắm các bạn trẻ có ý định bước vào nghề viết bằng con đường lí luận phê bình, một con đường không hề bằng phẳng, mà cứ khoảng năm chục người cầm bút viết văn thì mới  chỉ có  một, hai người làm lí luận phê bình.

Là nhà giáo cũng có đeo đuổi nghiệp lí luận phê bình, cùng chuyên ngành với tác giả, tôi thật sự vui mừng trước thành tựu của người đồng nghiệp trong cuốn sách để đời "Thăng hoa Sáng tạo và Thẩm mĩ Tiếp nhận Văn chương".

Hà Nội, 24 tháng 10 năm 2018

Vũ Nho

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).