Cốt tủy văn hóa của vần trong thơ

Trong cái nhìn bao quát, truyền thống của thơ Việt Nam là thơ có vần. Vần thơ là câu chuyện rất lớn của sinh hoạt thơ ca, sáng tác và nghiên cứu - phê bình, từ xưa đến nay. Câu hỏi được đặt ra ở đây là: Nền tảng văn hóa nào trở thành cốt tủy để duy trì vần thơ? Tại sao nhiều người vẫn làm thơ có vần, dù ở thời điểm hiện tại, vần không còn là yếu tố bắt buộc của thơ?

Nhớ lại, từ trong lịch sử, thơ trữ tình đã dung chứa yếu tố vần như là cơ chế bắt buộc, để phân biệt với văn xuôi. Vần trở thành đặc tính quan trọng, hiện hình ở bề mặt câu chữ, tạo nên nhịp điệu, nhạc tính cho thơ. Trong "Truyện Kiều", khi Thúy Kiều gặp mộ Đạm Tiên, Nguyễn Du tả rằng: "Rút trâm sẵn giắt mái đầu/ Vạch da cây, vịnh bốn câu ba vần". Bốn câu ba vần ấy là hình thức của một bài cận thể - tứ tuyệt (hoặc bát cú) vốn là mẫu thức của thơ ca trung đại. Chẳng hạn, Nguyễn Khuyến viết: "Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo/ Sóng biếc theo làn hơi gợn tí/ Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo" (Thu điếu) - Bốn câu, có ba vần (eo) hòa kết với nhau, tạo nên sự hô ứng của thanh âm và nhịp điệu, đồng thời biểu đạt trạng thái của thiên nhiên và lòng người.

nđt.jpg -0
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi (1924 – 2003) - Người khởi xướng thơ tự do không vần, giai đoạn đầu kháng chiến chống Pháp.

Đến thời cận - hiện đại, vần vẫn giữ vị thế là yếu tố chủ chốt, dù khuôn khổ bài thơ đã được tháo tung theo tinh thần mới của con người cá nhân. Các thi sĩ thời Thơ mới vẫn nương vào vần như là một di sản quan trọng của thơ, dù họ đả kích mạnh mẽ những hình thức cũ kĩ cũng như tâm tình ràng buộc của thơ trung đại: "Trong làn nắng ửng khói mơ tan/ Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng/ Sột soạt gió trêu tà áo biếc/ Trên giàn thiên lý bóng xuân sang" ("Mùa xuân chín" - Hàn Mặc Tử); "Tôi có chờ đâu, có đợi đâu/ Đem chi xuân lại gợi thêm sầu/ Với tôi tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau" ("Xuân" - Chế Lan Viên). Không đòi hỏi bắt buộc về số câu, số chữ, nhưng vần vẫn hiện diện tạo nên sự nhịp nhàng trong cấu trúc vận hành của thơ.

Thơ Việt Nam "lỡ một nhịp tiến vào hiện đại" với việc từ chối những hành động cách tân của Nguyễn Đình Thi. Câu chuyện về thơ không vần đã rộ lên một quãng ngắn rồi dần chìm xuống, ngay cả với người tiên phong khởi xướng là Nguyễn Đình Thi. Dù những biến động của lịch sử xã hội và thơ ca sau đó có như thế nào, vần vẫn hiện diện trong thơ một cách bền bỉ: "Anh viết cho em tự đảo này/ Cu Ba hòn Đảo Lửa, Đảo Say/ Ở đây say thật say trời đất/ Sóng biển say cùng rượu mật say" ("Từ Cu Ba" - Tố Hữu); "Từ nơi em gửi đến nơi anh/ Những đoàn quân trùng trùng ra trận/ Như tình yêu nối lời vô tận/ Đông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn" ("Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây" - Phạm Tiến Duật).

Chiến tranh đi qua, đất nước thống nhất, thơ ca cùng cả nước bước vào những chặng đổi mới đầy hứa hẹn. Những cách tân nghệ thuật ngày càng được chú ý hơn, tuy vậy, vần thơ vẫn có sức sống bền bỉ, làm thành một dòng chảy khá lớn trong thơ Việt Nam đương đại: "Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa/ Thương vườn cũ gẫy cành và rụng trái/ Áo em ướt để anh buồn khóc mãi/ Ngày mai chúng mình ra sao em ơi" ("Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa" - Lưu Quang Vũ); "Ở bên kia thành phố có sương mù/ ai hát đấy: ta buồn như cỏ dại/ dậy thôi em, mùa thu không trở lại/ giấc mơ nào trên cỏ hãy còn xanh"… ("Mùa thu không trở lại" - Nguyễn Việt Chiến). Trong không khí của thời đại mới, những trăn trở về cuộc đời, thân phận dẫu có ngặt nghèo bao nhiêu, thơ vẫn tìm thấy trong vần một sự kết liên mật thiết. Hiện trạng này cho thấy điệu tâm tình của thi sĩ hướng về phía những du dương, hài hòa vốn là kinh nghiệm có tính truyền thống trong mỹ cảm thơ Việt.

may_van_tho.jpg -0
Bìa tập thơ “Mấy vần thơ” của Thế Lữ, NXB Đời nay, 1935.

Từ cái nhìn thật nhanh về thơ Việt Nam, chúng ta nhận ra sức sống mãnh liệt của vần trong thơ, dù như đã nói, nó không còn là yếu tố bắt buộc nữa (Ở một dòng chảy khác, thơ Việt Nam đương đại đã rũ bỏ vần, khổ, để tiến tới những hình thái tự do của nhịp điệu, tâm tình). Trở lại với những câu hỏi đã nêu lên ở đầu bài viết, nền tảng văn hóa nào duy trì sức sống của vần trong thơ? Sẽ có nhiều lý do thuộc về tâm lý sáng tạo, hệ giá trị của người sáng tác và người thưởng thức cũng như thị hiếu chung của thời đại. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa có lẽ nằm ở "vô thức tập thể", "mẫu gốc" (C.G. Jung) của cộng đồng thẩm mĩ thơ Việt. Chính vần điệu đã nuôi dưỡng con người trên xứ sở này từ khi chưa lọt lòng. Những bài ca dao, dân ca, lời ru, điệu hát… đã tự nhiên thấm thía vào hồn người từ bao đời, ngưng đọng và cố kết thành cấu trúc thẩm mĩ, thành điệu sống.

Mặt khác, cư trú trong không gian văn hóa nông nghiệp gắn với tiết nhịp của mùa màng - thời gian và cảnh quan đã hình thành cảm niệm về quy luật tuần tự - lặp lại, có thể là cơ sở cho những thực hành nghệ thuật, từ văn học dân gian đến văn học viết: "Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao/ Ông ơi ông vớt tôi nao/ Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng" (Ca dao); "Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con con" ("Tự tình" - Hồ Xuân Hương); "Có cánh phượng nở giữa đông/ Hay là tôi lạc ở trong lòng mình/ Tìm giọt nước mắt đồng trinh/ Vẹn tuyền sau những chuyến tình em xa/ Tìm nỗi buồn của bông hoa/ Trong niềm vui nở thơm qua cuộc đời/ Tìm gần gụi nơi xa xôi/ Hạnh phúc trong cõi lòng tôi rất buồn" ("Bao nhiêu buồn một dung nhan" - Miên Di).

Một khía cạnh khác nữa, có lẽ, những khó khăn cực nhọc khi phải đối diện với nghèo đói, thiên tai, giặc giã và bao vết thương của đời sống từ xửa xưa tới nay, đã kích hoạt nhu cầu cần được vỗ về của con người nơi đây. Vần thơ, với tính chất nhịp nhàng, hài hòa của nó đã tỏ ra hiệu quả trong việc vỗ về tâm hồn con người, xoa dịu những tất bật lo toan thường nhật: "Thôi đừng dỗ cỏ lên trời/ Khi tan mộng mị biết ngồi với ai/ Dấu chân đừng hóa chông gai/ Nép vào bóng xế dũa mài hoàng hôn/ Ta về đổ bóng xuống vườn/ Cho xanh tươi lại từng cơn úa vàng/ Ghé môi vào miệng thời gian/ Cho hơi thở mọc vô vàn cỏ non" ("Tản mạn về cỏ" - Mai Văn Phấn).

Gần hơn, từ khi đến trường, học sinh đã thuộc lòng những bài thơ trong sách giáo khoa (không phải là các thể loại khác), vốn đa phần là những bài thơ có vần. Ký ức đó rất có thể đã chi phối, hỗ trợ rất nhiều cho việc thưởng thức và sáng tạo sau này, ít ra là tạo nên mối liên hệ thân thuộc của người đọc, người viết với những tổ chức ngôn từ có vần. Điều đó, cho đến hiện tại vẫn đang tiếp tục hiện diện, và dĩ nhiên, có thể các bạn nhỏ sẽ bắt đầu tác phẩm đầu tay của mình là một bài thơ có vần như những gì đã thuộc nằm lòng: "Tre xanh, xanh tự bao giờ/ Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh/ Thân gầy guộc, lá mong manh/ Mà sao nên lũy, nên thành tre ơi" ("Tre Việt Nam" - Nguyễn Duy); "Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói/ Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi/ Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy/ Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu/ Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!" ("Bếp lửa" - Bằng Việt)…

Một hiện tượng xã hội, thẩm mỹ nào đó khi tồn tại một cách bền bỉ, mạnh mẽ, ắt hẳn có cơ sở văn hóa sâu dày của nó. Vần thơ chính là một hiện tượng như vậy. Nhiều người làm thơ có vần, điều đó cho thấy ký ức vần điệu đã hằn sâu trong tâm tưởng, vô thức của cộng đồng. Những gì đi chệch, phá vỡ cấu trúc vần nhịp này đều không phải là thơ hay, hoặc hay với người khác. Nhưng, cũng từ chính sự vững chắc của ký ức này, những hành động cách tân đã chú ý đến việc xóa bỏ vần để giải phóng các khả năng của tư duy và mĩ cảm thơ ca. Cùng với cảm thức mới, điệu sống mới là hình thức nghệ thuật mới, trong đó vần bị triệt tiêu như là một phương thức bày tỏ sự tự do. Và quả thực, với những bài thơ không vần, dường như chân trời mĩ cảm, suy tưởng được nới rộng thêm ra. Dẫu vậy, mỗi khi bắt gặp những bài thơ có vần, ta vẫn thấy thân thuộc như gặp lại cố nhân, với vẻ hài hòa, nhịp nhàng đã bước qua cả ngàn năm thơ Việt.

Nguyễn Thanh Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).