Công nghiệp 4.0: Nên hiểu thế nào và bắt đầu từ đâu?

Trong bối cảnh đó, rõ ràng việc hiểu khái niệm 4.0 ở Việt Nam hiện đang rất mơ hồ, và do vậy, để xác lập đường hướng phát triển vươn tới trình độ 4.0 cũng mơ hồ không kém. Một khi việc hiểu một sự việc không tường tận đến tận bản chất, chuyện lập kế hoạch, sách lược để thực thi chắc chắn sẽ khó tránh khỏi những sai lầm đáng tiếc.

Tuần trước, khi quyết định bổ nhiệm quyền Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông cho Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng, có một số trang thông tin đưa lại bài phát biểu của tân quyền Bộ trưởng về Cách mạng Công nghiệp 4.0.

Nhiều người lầm tưởng rằng đây là phát biểu đầu tiên của ông Nguyễn Mạnh Hùng ở cương vị mới. Song thực chất, đó là một bài phát biểu từ tháng 2-2018, khi ông Nguyễn Mạnh Hùng tham dự Hội nghị khoa học Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ cách mạng công nghiệp do Đại học Công nghiệp Hà Nội tổ chức.

Phải thừa nhận, đây là một bài phát biểu gây ấn tượng mạnh, với những suy nghĩ táo bạo, mang tính thời cuộc rất lớn.

Ngay sau khi bài phát biểu kia được chia sẻ lại một cách khá rầm rộ, bắt đầu xuất hiện những diễn đàn trên mạng xã hội thảo luận một cách nghiêm túc về Công nghiệp 4.0. Đặc biệt trong số đó là diễn đàn được khơi gợi bởi một giáo sư Toán, Vật lý từng công tác giảng dạy ở Học viện Kỹ thuật quân sự. Chính vị giáo sư này, với sự cầu thị và khiêm cung, đã khơi gợi một vấn đề mang tính cốt lõi, ngõ hầu mong nhận được trao đổi từ đồng nghiệp, học trò, những nhà nghiên cứu để làm rõ thêm bản chất của vấn đề. Câu hỏi ông đặt ra rất đơn giản: "Tôi chưa rõ định nghĩa Cách mạng Công nghiệp 4.0 là gì. Bạn nào hiểu xin bình luận vào sau chia sẻ này. Mong các bạn bình luận có tính xây dựng".

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa: (Nguồn Internet).
Ảnh chỉ mang tính chất minh họa: (Nguồn Internet).

Khá ngạc nhiên là trong số những ý kiến tham góp vào diễn đàn mở của giáo sư kể trên, khá nhiều người bình luận đã thừa nhận rằng thực sự họ cũng chưa hiểu thế nào là 4.0. Họ không phải những người ngoại đạo, hoặc những người không có nền tảng kiến thức tốt. Họ cũng tham gia bình luận để mong hiểu biết thêm, nhất là ở một khái niệm quá mới như là 4.0, khái niệm thực chất mới chỉ được đưa ra lần đầu tiên vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover ở Đức.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều người trẻ, có trình độ, năng động, chịu khó tìm tòi, chịu khó đọc, đã nhận xét ngắn gọn rằng Công nghiệp 4.0 khác với Cách mạng Công nghiệp lần thứ 3 (tạm gọi 3.0), ở chỗ nó có sự tham gia của "nhà máy thông minh" (smart factory); "trí tuệ nhân tạo" (AI); "dữ liệu gói lớn" (Big data); "Internet vạn vật" (IoT); "điện toán đám mây" (Cloud computing); "máy có khả năng tự học" (machine learning)… Những thứ họ liệt kê ra khá chi tiết, và không hề sai. Nhưng nếu để nói nó là chính xác thì không hẳn.

Phải thừa nhận với nhau rằng, muốn đạt trình độ Công nghiệp 4.0, nhất thiết phải có sự tham gia của những yếu tố công nghệ thời thượng kể trên. Song nếu chỉ có sự tồn tại của các yếu tố công nghệ thời thượng kể trên trong ứng dụng mà thôi thì vẫn chưa đủ để cấu thành một nền công nghiệp đạt trình độ 4.0. Ngắn gọn, các yếu tố công nghệ đó chỉ mang tính chất hiện tượng của 4.0 không hơn không kém. Còn bản chất lại đòi hỏi đạt một mức độ tiến bộ hoàn toàn khác.

Để hiểu thật rõ về Công nghiệp 4.0, chúng ta cần quay lại với mô tả về khái niệm và bản chất của Klaus Schwab, sáng lập viên và cũng là Chủ tịch của Diễn đàn Kinh tế thế giới (World Economic Forum).

Theo ông Schwab, để được coi là đạt trình độ Công nghiệp 4.0 cần phải hội tụ được 3 yếu tố: tốc độ cập nhật và phát triển năng lực công nghệ; sự kết hợp giữa công nghệ kỹ thuật số và đa dạng công nghệ tạo nên thay đổi cả chiều rộng lẫn chiều sâu ở các khía cạnh kinh tế, xã hội, cá nhân con người; và tính ảnh hưởng đến toàn hệ thống, bao gồm cả hệ thống quốc gia, hệ thống nền kinh tế, hệ thống xã hội. Nói một cách chân phương, muốn được coi là đạt trình độ Công nghiệp 4.0, không chỉ cứ đón đầu áp dụng các yếu tố như "trí tuệ nhân tạo", "nhà máy thông minh", "internet vạn vật", "dữ liệu lớn"… là đủ.

Hơn hết, những yếu tố được ứng dụng kia phải tạo ra sự thay đổi về cả "bản chất" lẫn "bộ mặt" của hệ thống các ngành công nghiệp cũng như xã hội. Với sự lột xác toàn diện so với Công nghiệp 3.0 như thế, một quốc gia mới có quyền tự tin rằng mình đã đạt trình độ 4.0.

Trong bối cảnh đó, rõ ràng việc hiểu khái niệm 4.0 ở Việt Nam hiện đang rất mơ hồ, và do vậy, để xác lập đường hướng phát triển vươn tới trình độ 4.0 cũng mơ hồ không kém. Một khi việc hiểu một sự việc không tường tận đến tận bản chất, chuyện lập kế hoạch, sách lược để thực thi chắc chắn sẽ khó tránh khỏi những sai lầm đáng tiếc.

Thực tế, ở trình độ của các ngành công nghiệp Việt Nam hôm nay, thực hiện cải tiến để vươn tới 4.0 có khả thi hay không? Có thể nói, với đòi hỏi cơ bản của cuộc cách mạng công nghệ thứ 3 là tự động hoá với sự tham gia của máy tính, máy tính cá nhân, số hoá và Internet (từ 1990), khá nhiều nhà máy ở Việt Nam đã được coi là thành thạo ở nền tảng 3.0 rồi.

Về kỹ nghệ, nếu sử dụng đúng con người, ứng dụng đúng các yếu tố công nghệ 4.0 để thay đổi hoàn toàn cách vận hành của cả một hệ thống (không chỉ việc sản xuất mà còn ở cả chuỗi giá trị), việc tiến lên 4.0 là hoàn toàn có cơ hội. Nhưng đó là cơ hội được nói trên lý thuyết mà thôi. Thay đổi công nghệ của một chuỗi nhà máy để trở nên hiện đại nhất thế giới là chuyện không quá khó.

Thay đổi cả một chuỗi giá trị, với sự tham gia của các công nghệ thời thượng và những con người thời thượng mới là chuyện cực khó. Bởi thế, trong nghiên cứu của mình, Klaus Schwab đã chỉ ra rất rõ rằng muốn được coi là ở trình độ 4.0, dứt khoát phải hội tụ 3 thành tựu: tăng cường nhận thức và nắm bắt sự tân tiến và đa dạng của cách mạng công nghệ; xây dựng được khung hoạt động, tư duy về cách mạng công nghệ để có thể giúp chỉ ra rõ những vấn đề cốt lõi và bản chất; và cung cấp được một nền tảng khuyến khích sự hợp tác giữa cộng đồng với cá nhân về các vấn đề công nghệ.

Rõ ràng, với các thành tựu dạng đó, việc cải tiến các ngành sản xuất hàng hoá ở Việt Nam hiện nay để bắt kịp Công nghiệp 4.0 đòi hỏi một quá trình lâu dài với những nghiên cứu và đầu tư nghiêm túc, đặc biệt là đầu tư về con người.

Vậy thì đâu là cơ hội của Việt Nam ở sân chơi 4.0 hôm nay? Thực tế, cơ hội lại đang tiềm tàng ở những ngành công nghiệp không khói khác, mà cụ thể có thể là công nghiệp du lịch, công nghiệp văn hoá và ngành nông sản chất lượng cao.

Chính trong diễn đàn mà vị giáo sư Toán, Vật lý nói trên đưa ra, đã có những ý kiến rất sâu sắc nhận định rằng nếu Việt Nam định hướng du lịch là ngành mũi nhọn, với chủ trương đẩy mạnh du lịch sinh thái, du lịch giá cao chỉ phục vụ những khách hàng cao cấp, du lịch "sạch" với xu hướng gần gũi tối đa với tự nhiên, chúng ta có thể thu lợi nhiều hơn gấp nhiều lần so với cách làm du lịch phổ thông, đại trà hiện nay.

Và việc quản trị cũng như cung cấp dịch vụ cho ngành công nghiệp du lịch ấy nếu được dựa trên tất cả các công nghệ hiện đại nhất của Công nghiệp 4.0, chúng ta có thể tạo ra sự thay đổi về bản chất đối với ngành công nghiệp du lịch. Ví dụ, nếu chúng ta khai thác và phân tích tốt cơ sở dữ liệu lớn, chúng ta dễ xác lập đối tượng khách hàng mục tiêu của ngành Du lịch giá cao gắn chặt với sinh thái mà mình hướng tới.

Ngoài ra, việc trang bị tân tiến đến từng mắt xích trong chuỗi giá trị để tạo ra giá trị khác biệt, dịch vụ khác biệt, con người khác biệt cũng sẽ khiến bản chất của ngành du lịch Việt Nam thay đổi hoàn toàn. Với thay đổi bản chất như thế, có thể nói du lịch Việt Nam đã đạt ở tầm vóc trình độ 4.0 rồi.

Tương tự có thể là nông sản giá cao, với loại nông sản tự nhiên hoàn toàn, không có bất kỳ sự can thiệp nào của hoá chất, thuốc kích thích tăng trưởng... Đó là cách mà số ít quốc gia trên thế giới đang theo đuổi, bằng hình thức dùng công nghệ để theo dõi sự phát triển của nông sản tự nhiên thay vì để can thiệp vào sự phát triển ấy. Sự dồi dào nguồn giống cây trồng nhiệt đới của Việt Nam là một lợi thế và nếu kiên trì đi theo phương pháp này, có thể sẽ đến lúc nông sản Việt thu được rất nhiều lợi ích từ quý hồ tinh chứ không phải quý hồ đa.

Thêm vào đó, chiến lược ấy cũng có khả năng giúp xây dựng một hệ thống thương hiệu nông sản Việt như một loại nông sản xa xỉ hàng đầu trên thị trường thế giới. Đó cũng là thay đổi bản chất, và đó cũng chính là 4.0.

Sẽ còn cả những lĩnh vực khác nữa đề dành cho những nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách tham gia vào một cách thực sự nghiêm túc. Nói cho cùng, Công nghiệp 4.0 dù sao đi nữa cũng cần những con người hiểu biết, trình độ và dám hành động. Còn nhược bằng không, nếu chỉ 4.0 bằng lời nói, chúng ta cũng sẽ chỉ đạt được những hiệu quả bằng lời nói mà thôi.

Hà Quang Minh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).