Con số "thiêng"  - Nhìn từ "liên văn hóa"!

Dùng để đo đếm, tính toán, tư duy, con số là một ký hiệu đặc biệt, một phát minh vĩ đại của con người, nhờ vậy mà nhân loại mới có cuộc sống văn minh như ngày nay. Chính vì cực kỳ quan trọng như thế nên nó trở thành “thiêng”.

Bị khúc xạ bởi văn hóa (ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục…) nên với dân tộc, cộng đồng này, con số ấy là thiêng còn với dân tộc, cộng đồng kia thì ngược lại. Ví như với người Hoa thì con số 4 không phải là số may. Lý do bởi cách phát âm tiếng Trung chữ “tứ” gần giống chữ “tử” có nghĩa là chết. Thêm nữa là xuất phát từ triết lý phương Đông cổ xưa quan niệm đời người có bốn giai đoạn “sinh, lão, bệnh, tử” thì số thứ tự 4 nói về sự kết thúc một quá trình sống…

Người Hoa thích số 9, coi đó là biểu tượng của hạnh phúc, thuận lợi. Vì chữ “cửu” (chín) có nghĩa là trường cửu, bền vững, lâu dài. Chịu ảnh hưởng trong quy luật tiếp biến nên người Việt cũng coi số 9 là số “thiêng”… Quy định bởi hướng tiếp cận, bài viết chọn con số 7 rồi soi chiếu từ ánh sáng của lý thuyết “liên văn hóa” để làm bật ra những nét chung riêng khá thú vị.

image005.png -0
Tranh Đức Phật đản sinh!

Người Việt không thích số 7 thường dùng nó chỉ những gì không tốt lành. Về sự bấp bênh, chìm nổi: “Ba chìm, bảy nổi”, về sự mong manh, ngắn ngủi: “ba bảy hai mốt ngày”, để chỉ ngày xấu: “chớ đi ngày 7 chớ về ngày 3”… Người Trung Quốc cho rằng con số 7 là con số của mất mát, tức giận, thậm chí là cái chết. Nhìn từ trường liên văn hóa, cả người Việt và người Hoa chịu sự chi phối của các tập quán văn hóa sau.

Một là, ở Việt Nam và Trung Quốc số 7 có phiên âm Hán là “thất” nghĩa là “mất”: “thất bát”, “thất bại”, “thất nghiệp”, “thất đức”, “thất học”, “thất vọng”, “thất tình”... Hai là theo phong thủy, số 3 và 7 là những con số không tốt, số 3 ứng với sao “Tam bích” biểu trưng cho sự tranh chấp, mâu thuẫn. Số 7 ứng với sao “Thất xích” chủ về sự mất mát, trộm cắp. Ba là tục kiêng. Tháng 7 (âm lịch) ở cả hai nước đều coi đó là tháng “cô hồn”, tháng để “mở cửa mả” (từ ngày 2/7 đến đêm 14/7, Diêm Vương mở “Quỷ môn quan” để ma quỷ trở về dương thế) rồi “xá tội vong nhân”. Do là “tháng của ma quỷ”, không may mắn nên đều tránh các việc cưới hỏi, xây dựng, mua sắm, khởi hành,..

Nhưng với nhiều nền văn hóa trên thế giới thì con số 7 lại rất “thiêng”!

Trong các tôn giáo, với đạo Phật, số 7 là biểu tượng của con đường tu hành. Đức Phật khẳng định ngài đã bước 7 bước “từ phàm phu đến quả vị Phật”. Bảy bước ấy trở thành biểu tượng cho bảy “hạnh lành” của Phật khi nhập vào cuộc đời để cứu độ chúng sinh.

Số 7 xuất hiện rất nhiều trong kinh Hindu với quan niệm trái đất nằm ở giữa gồm 7 hành tinh ở trên ứng với 7 “thế giới” khác nhau của con người và 7 hành tinh nằm phía dưới là nơi cư ngụ của ma quỷ. Trong huyền thoại Hindu, Surya - vị Thần Mặt trời cưỡi một cỗ xe có 7 con ngựa. Thần lửa Agni được miêu tả với 7 bàn tay và bảy ngọn lửa - tương ứng với những phần của cơ thể người và 7 nguồn năng lượng sẽ thức tỉnh trong quá trình thực hành tâm linh.

Đạo Công giáo coi số 7 như là một mã văn hóa đặc biệt. Có thể ban đầu như là một sự ngẫu nhiên mà số 7 xuất hiện nhiều: bảy người trong Hội Thánh đầu tiên, bảy chiếc kèn, bảy đại tội, bảy bí tích, 7 ngày sáng tạo (ra vũ trụ) của Chúa... Chúa được vinh danh trong vòngquang 7 tia sáng… Dần dần số 7 được coi là con số lý tưởng biểu thị sự hoàn thiện hay hoàn hảo về cả linh hồn lẫn thể xác.

“Kinh Thánh” khi mới khởi thảo được chia thành 7 phần chính. Số lượng sách (xuất bản) lần đầu là 49 (tức bội số của 7, 7 x 7 = 49).Cũng trong “Kinh Thánh”, Eva được tạo ra từ chiếc xương sườn thứ 7 của Adam. Sự kiện đó diễn ra vào ngày 7 tháng 7 (theo lịch Do Thái).Có nhà nghiên cứu “Kinh Thánh” đếm được số 7 được sử dụng 55 lần trong sách “Khải Huyền”. Đây cũng là con số thay đổi sau một chu kì thay đổi mới.

Tại sao các tôn giáo lại có chung quan niệm như vậy? Đây là một cách giải thích: Sau khi phát minh ra các con số thì số 7 không chia chẵn cho số nào nên nó được so với những gì bí hiểm để rồi dần dần tượng trưng cho sức mạnh thần linh trong thiên nhiên.

Qua quan sát, con người thấy có 7 hành tinh chi phối đến trái đất, chi phối nhịp của sự sống và gắn với 7 ngày trong tuần. Với các tôn giáo thì tính “thiêng” là một đặc trưng nổi bật, nên con số 7 đi vào thực hành, tu tập như là một tất yếu. Số 7 càng thiêng hơn khi gắn với tự nhiên: 7 kỳ quan thiên nhiên, 7 đại dương, 7 sắc cầu vồng… Cho đến ngày nay văn hóa phương Tây vẫn coi số 7 là may mắn. Hai danh thủ bóng đá David Beckham (người Anh) và Cristiano Ronaldo (Bồ Đào Nha) khoác áo câu lạc bộ nào cũng chỉ mặc áo số 7!

image003.jpg -0
Một lễ bỏ mả Tây Nguyên!

Ở phương Đông, người Nhật rất coi trọng con số 7 may mắn. Miền thượng nguồn của dòng chảy này là huyền thoại “Thất phúc thần” tức 7 vị phúc thần mang đến sự may mắn: Thần bảo trợ sự sống (Jurojin); Thần của cải, vui vẻ, hạnh phúc (Hotei); Thần khôn ngoan, may mắn và bất tử (Fukurokuju); Thần bảo hộ ngư dân (Ebisu); Thần của cải và bảo hộ nông dân (Daikoku); Thần của các chiến binh (Bishamonten); nữ Thần may mắn, tình yêu, thông thái và nghệ thuật (Benten).

Số 7 trở thành một nét văn hóa nên người Nhật thường tổ chức các sự kiện vào ngày 7. Như lễ Thất tịch (Tanabata) diễn ra ngày 7 tháng 7 hàng năm. Kỷ niệm 7 ngày sau khi đứa trẻ chào đời, lúc đó mới được đặt tên chính thức. Để tang người thân vào ngày thứ 7 và tuần thứ 7 sau khi qua đời… Văn hóa đương đại Nhật cũng đậm “tinh thần” số 7 với “7 anh em mèo máy Doraemon”, “7 viên ngọc rồng”…

Ở Tây Nguyên nước ta, tiêu biểu là dân tộc Êđê coi con số 7 như là một biểu tượng mang tính phổ quát. Như khi đứa trẻ vừa mới sinh ra phải dùng chày giã gạo ném đi, ném lại dưới gầm nhà sàn 7 lần để xua đuổi thần ác. Trong thời gian 7 ngày, đầu đời đứa bé phải đặt tên. Một đời người được tổ chức 7 lần cúng để cầu sức khỏe. Cây nêu (cột gương) dùng để cúng mừng thọ được khắc 7 vòng ở đầu cột và bôi 7 vòng tiết trâu. Lễ cúng mừng thọ được buộc 7 ché rượu… Mâm cơm cúng thường có 7 tô cơm, 7 tô canh, 7 tô thịt chín đã thái nhỏ, 7 bát không và 7 đôi đũa. Cầu thang nhà dài có bảy bậc lên xuống; dàn chiêng knah có 7 cái… Trong lễ trưởng thành (con trai) con heo cúng thần linh phải dài 7 gang tay, phải chọn 7 chàng trai chưa vợ, 7 cô gái chưa chồng đi lấy nước về đổ vào 7 ché rượu để cúng…

Trong thế giới sử thi con số 7 để chỉ về không gian, thời gian: “Bảy mùa rẫy đã trôi qua”; “phải vượt qua bảy ngọn núi, bảy con sông, bảy dòng thác”; “cứ 7 mùa trăng thì hồn người chết về thăm người sống một lần”; “Chàng Sing Nhã mới sinh ra đã nhảy qua bảy ngọn núi, bảy con suối, bảy cánh rừng”; chàng Đam San phải đánh nhau với 7 Mtao hùng mạnh. Đam San phải đi mất 7 mùa trăng mới đến được nơi ở nữ thần mặt trời…

Số 7 chi phối cả tư duy. Số đếm của người Êđê chỉ dừng lại ở con số 7, từ số 1 đến số 7 chỉ dùng một âm tiết: sa (1), dua (2), tlao (3)... Từ con số 8 trở lên phải ghép hai âm tiết: sa păn (8), dua păn (9)… Con số 7 còn được gắn liền với những ý niệm thời gian thể hiện qua những huyền thoại về trăng. Văn hóa Tây Nguyên nói chung tính thời gian theo chu kì của mặt trăng. Mỗi chu kì dài bảy ngày và bốn kì. Các lễ hội được tổ chức tuân theo đặc tính chu kỳ này. Trăng đi vào văn hóa Tây Nguyên như một biểu tượng cơ bản đa nghĩa nhất. Xét trên thực tế, giả sử những đêm hát sử thi, những lễ hội, những đám cưới, đám tang, những cuộc vui suốt đêm… lại thiếu ánh trăng thì sự thơ mộng, nồng nàn sẽ giảm đi rất nhiều. Cùng là những sự vật, hiện tượng “thiêng” nên không ngẫu nhiên số 7 và hình tượng trăng thường đi liền với nhau!

Bắt nguồn từ triết học thô sơ quan niệm vũ trụ có 7 tầng (ba tầng trời, ba tầng địa ngục, và mặt đất ở trung tâm) con số 7 đi vào văn hóa Tây Nguyên như một “cổ mẫu” nguyên thủy. Quan niệm này gần như trùng với quan niệm của đạo Phật và đạo Hồi. Vì sao có giống nhau như vậy? Ngẫu nhiên hay có một dòng chảy ngầm nối các tôn giáo rồi kéo dài đến mảnh đất Tây Nguyên? Đến nay vẫn chưa có một câu trả lời thuyết phục. Xin mời bạn tiếp tục tìm hiểu!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).