Con sam – cặp đôi trong đời sống văn hóa!

Con sam, tức sam biển, thường sống ở vùng biển gần bờ, hay gặp ở các cửa sông, có đặc trưng là luôn đi đôi một cặp vợ chồng. Theo khoa học sinh vật thì sam biển (limulidae) là động vật thuộc ngành chân kìm, lớp đuôi kiếm, họ sam, có nhiều loài nhưng sam Mỹ (limulus polyphemus)phân bố ở các khu vực ven biển châu Mỹ là loài lâu đời nhất, hơn cả khủng long, khoảng 350-400 triệu năm.

Tồn tại đã lâu lại có tập quán đặc thù nhưng thường sống dưới đáy biển ít được con người biết tới nên tính phổ biến bị hạn chế. Tuy đã kết thành biểu tượng nhưng chỉ lưu truyền trong phạm vi văn hóa dân cư ven biển mà không tìm thấy ở miền văn hóa nào khác. Là sự kết tinh, phản chiếu, khúc xạ các quan niệm nên biểu tượng văn hóa luôn đa dạng các lớp nghĩa chung quanh nghĩa hạt nhân. Sam cái luôn lớn hơn, có khi gấp ba lần khối lượng sam đực. Sam cái luôn đi trước, thậm chí để sam đực bám chặt vào mai nên bắt sam thì luôn bắt được cả hai.

image002.jpg -0
Vợ chồng con sam biển.

Do vậy có một nghĩa biểu tượng chung ở hầu hết các vùng văn hóa là ca ngợi tình cảm vợ chồng chung thủy, trước sau như một, gắn bó không rời. Lại có nơi nảy ra tập quán nếu ăn thịt sam phải ăn cả đôi, nếu ăn một sẽ bị ngộ độc. Chắc có lý do sam luôn đi đôi như cặp phạm trù âm dương nên chỉ ăn thịt một con sẽ mất cân bằng... (!?). Thực ra không phải vậy. Khoa học dinh dưỡng chứng minh thịt sam cái (nhất là ăn trứng sam) thì tốt hơn vì sam đực gầy, nhỏ, lại dành nhiều tinh lực cho việc giao phối.

Thành ngữ người Việt có những câu: “Dính nhau như đôi sam”, “Thương nhau như sam”... Lại có một cổ tích đi kèm tên “Sự tích con sam” như là một cách chứng minh: Có hai vợ chồng làm nghề đánh cá nghèo rất yêu thương nhau. Người chồng đi biển chẳng may gặp bão nên đã hàng tháng bặt tin. Đau đớn khôn cùng, người vợ bỏ nhà ra đi, đi mãi, cứ theo bờ biển mà đi.

Một hôm trèo lên một đỉnh núi rồi ngủ thiếp. Bỗng một tiếng nổ làm bà choàng dậy. Một ông lão đầu tóc bạc phơ đứng trước mặt, hỏi sao dám đến nằm trước nhà ta. Bà nói đi tìm chồng. Ông lão tự nhận là thần Cây bèn nói chồng ngươi còn sống đang ở ngoài đảo xa rồi trao cho người đàn bà viên ngọc và bảo ngậm vào miệng thì sẽ bay qua được biển để gặp chồng. Nhưng phải nhớ nhắm mắt ngậm miệng kẻo rơi ngọc.

Bà làm theo. Trời nổi gió. Người bà chợt nhẹ bẫng. Bà bay đi... Gặp nhau cả hai vợ chồng vô cùng mừng rỡ. Người chồng ôm ngang lưng vợ để bay qua biển về nhà. Tâm trạng xốn xang mừng tủi, đang bay mà người vợ cứ quay lại nhìn và muốn nói chuyện cho thỏa. Quên phắt lời thần Cây, bà mở miệng. Viên ngọc rơi xuống. Họ cũng rơi theo... Ông trời cảm động thương tình hóa cho họ thành đôi sam, lúc nào con sam đực cũng ôm lấy con sam cái như khi họ ôm nhau để bay qua biển!

Một bi kịch nhưng là “bi kịch lạc quan” trân trọng tình nghĩa vợ chồng bền chặt, chung thủy luôn luôn có nhau kể cả khi đã hóa thành kiếp khác!

Môtip “mở miệng là chết” có trong rất nhiều truyện cổ tích như nhắc nhở con người chỉ nói khi cần thiết. “Con người có miệng có môi...” ngoài để cười để khóc, cơ bản hơn là để ăn để nói. Nhưng có phải lúc nào nói cũng là tốt đâu. Phải biết nói đúng lúc đúng chỗ, nếu không sẽ nguy hiểm đến chính tính mạng mình. Không nói thì giữ được ngọc quý. Nói ra là mất ngọc quý. Thì ra có một thứ ngọc bảo hiểm cho con người, đó là im lặng!!!

Dân ca Nam bộ có bài “Lý Con Sam” khẳng định nghĩa tình vợ chồng chung thủy rất được mến chuộng, thường được đưa vào các vở tuồng cải lương: “Sông sâu nước chảy có nguồn/ Con sam có cặp theo luồng nước sông/ Hỡi ai biết cặp con sam/ Mình đồng chân sắt mắt lại trên lưng/ Uống nước thôi cầm chừng/ Đói no xin nhờ vợ ta đừng có theo ai/ Ấy là đôi cặp con sam/ Sam ơi sam lội sam vùi dưới sông.../ Nghĩa nhân có đặng keo sơn/ Bền lòng son sắt ắt đẹp duyên hương/ Chớ thiếp luôn chiều chồng/ Mới nên duyên chồng vợ/ Xin chàng chớ quên em/ Ấy là duyên nợ con sam…/ Ấy là duyên nợ con sam...”.

Bài ca có bốn lời, lời dân gian miêu tả thói quen, tập quán của sam (Sông sâu nước chảy có nguồn/ Con sam có cặp theo luồng nước sông) và đặc thù hình dáng (Mình đồng chân sắt mắt lại trên lưng). Lời người chồng tri ân và nhắn nhủ người vợ (Uống nước thôi cầm chừng/ Đói no xin nhờ vợ ta đừng có theo ai). Lời người vợ khẳng định lòng mình và nhắn nhủ chồng (Chớ thiếp luôn chiều chồng/ Mới nên duyên chồng vợ/ Xin chàng chớ quên em). Kết lại là lời đồng vọng không phân biệt giọng của ai vì cùng hô ứng bền chặt trong tình nghĩa “con sam” (Ấy là duyên nợ con sam…/ Ấy là duyên nợ con sam...). Điệp khúc này cứ ngân nga luyến láy mãi như nhắn nhủ mọi người hãy chung thủy như đôi sam vậy!

image001.jpg -0
Hình minh họa "Sự tích con sam" trong Truyện cổ tích Việt Nam.

Truyền thuyết Khơ Me có “Chuyện con sam” kể, có một ông vua giàu có luống tuổi mới sinh được hoàng tử. Một hôm hoàng hậu đưa con đi chơi bị con garuda (tiếng Phạn cổ là chim thần) tha mất. Một thiếu nữ miền biển Nam Krès xin vua đi cứu. Con garuda định tới nơi thật xa để ăn mồi thì gặp bão nên đánh rơi hoàng tử xuống một hòn đảo. Thiếu nữ đến kịp thời và bảo hoàng tử ôm vào cổ để nàng bơi vượt biển. Đến giữa biển đột nhiên váy áo của nàng bị tuột. Xấu hổ, thẹn thò, nàng bơi lại lấy. Hoàng tử bị chết đuối, chìm dần. Nàng hoảng hốt lặn xuống cứu nhưng khi hoàng tử ôm lại vào cổ thì nàng kiệt sức... Họ hóa thành đôi sam!

Người Campuchia có thành ngữ “Không nên như con sam đực” chắc ít nhiều có mối liên hệ với chuyện cổ tích này. Ý nói là đàn ông đừng nên “bám váy” đàn bà! Còn không sẽ bị trả giá bằng cái chết như cậu hoàng tử nọ! Rõ ra cái chủ đề ca ngợi người nữ vị tha, gan dạ dũng cảm cứu người. Chủ đề “thiên nữ tính” khá đậm trong văn học Campuchia, quả thật, điệu múa apsara của dân tộc Khơ Me đã nổi tiếng thế giới!

Cổ tích Nhật Bản cũng có “Sự tích con sam” giống với truyện của ta nhưng chủ đề khác. Đôi vợ chồng nghèo nọ mới cưới chưa con cái rất yêu nhau nên suốt ngày quấn quýt. Người vợ rất chiều làm đủ việc thay chồng. Được đà anh chồng ỷ lại làm nũng, chỉ biết bám vào vợ... Nhờ người vợ tháo vát, đảm đang, khỏe mạnh, nhất là có ý chí, nghị lực làm giàu nên gia đình dần khấm khá có của ăn của để. Nhưng anh chồng cứ ngày một sinh hư, không chỉ yếu về sức lực vì không quen lao động mà còn yếu đuối cả về tinh thần. Mọi việc vợ quán xuyến hết. Thậm chí đi đâu xa anh ta còn bắt vợ cõng... Một hôm hai vợ chồng bơi thuyền ra cửa biển chẳng may gặp bão. Họ chìm xuống. Anh chồng vẫn cố bám vào cổ vợ... Họ hóa thành đôi sam!

Rõ ràng câu chuyện này “tỉnh táo” hơn. Nó như dạy các cặp vợ chồng: yêu nhau là tốt, vì đó là nền móng của ngôi nhà hạnh phúc. Nhưng phải biết tự trọng, không dựa dẫm vào người mình yêu. Anh chồng này yêu vợ nhưng chỉ biết dựa vào vợ, ăn bám vợ. Người vợ yêu chồng nhưng không biết “dạy chồng”. “Có chí thì nên” là một luận đề mang tính giáo dục đậm nét trong thế giới cổ tích Nhật Bản. Nó răn dạy con người biết kiên trì, vượt khó để thành công. Truyện này cũng là một minh họa, nhưng cao hơn là nhắc nhở con người trong yêu thương, dù chiều chuộng nhau cũng phải biết giúp nhau có thêm ý chí nghị lực. Nếu không sẽ thất bại đau đớn!

Đặc trưng của sam, ngoài luôn “cặp díp” chồng vợ còn có những nét lạ là mắt ở trên lưng và máu màu xanh. Con sam còn để làm thuốc chữa bệnh, chữa trị chứng ngứa lở cho trẻ em, ho suyễn cho người già,... rất công hiệu. Máu sam thường dành cho người suy dinh dưỡng.

Dựa vào những nét nghĩa này cư dân ven biển Thái Lan có “Sự tích con sam” kể đôi vợ chồng nọ yêu thương nhau. Người chồng từng bị tai nạn nhưng được cứu thoát kịp thời nên rất mộ Phật. Họ ăn chay trường, luôn làm công đức, sống tình nghĩa với dân làng, hay giúp kẻ khốn khó. Cứ mỗi buổi chiều ra ngồi trước cửa hai vợ chồng cùng ngước lên trời ngắm những đám mây hình Phật. Một lần đi vãng cảnh chùa xa, qua cầu chẳng may họ bị rơi xuống sông. Người vợ để chồng ôm vào lưng rồi cố bơi vào bờ nhưng không thành. Cả hai chìm xuống...

Phật tổ thương hóa kiếp cho họ thành đôi sam mãi mãi bên nhau. Vì sống dưới đáy sông nên Phật cho họ thêm đôi mắt trên lưng để nhìn ngắm Phật như lúc họ sống. Máu xanh là lúc sống họ ăn chay trường... Y học hiện đại thì lại chứng minh máu sam không chỉ là vị thuốc bổ mà còn có sức kháng khuẩn mạnh!

Nguyễn Thanh Tú     

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).