Con cú - Những quan niệm ngược chiều

Dựa vào mối liên tưởng từ hình tượng gốc là con vật có ích, hầu như thức suốt đêm, theo tinh thần duy lý phương Tây hiện đại quan niệm con cú là biểu tượng cho trí thức, sự khôn ngoan.

Mắt cú to tròn, tinh nhanh, bắt mồi chính xác, hiệu quả. Những điểm ấy gần gũi với hình tượng các giáo sư đeo kính đọc sách thao thức suốt năm canh thâu. Vì thế, ngày lễ tốt nghiệp (đại học) người ta tặng nhau biểu tượng con cú đội mũ tiến sĩ thay cho lời chúc sẽ đi xa hơn trên con đường học thuật. Tiếng lóng hiện đại "a wise old owl" (một cú già khôn ngoan) là để chỉ các giáo sư minh triết già đời lọc lõi, sắc sảo... Thế là không chỉ giới hạn trong giới hàn lâm mà phổ biến ra cả cộng đồng, ở phương Tây nhiều người nuôi cú làm thú cưng!

Trong thần thoại Hy Lạp, chim cú là biểu tượng của Nữ thần trí tuệ Athena - đấng bảo trợ cho thành Athens. Sống vào ban đêm, trực giác thính nhạy nên cú được gắn với những gì bí ẩn và năng lực tâm linh. Được tô đậm hình ảnh đôi mắt sâu và to, tinh ranh, cú thành nguồn cảm hứng truyền đến các binh sĩ. Một con cú bay qua, với họ là báo trước chiến thắng. Cao hơn, cú được coi là loài quyết định số phận con người.

1_ouoy.jpg -0
Chim cú mèo.

Trong thần thoại La Mã thì bắt đầu từ câu chuyện một cô công chúa xinh đẹp tên Nyctimene, con vua Epopeus cai quản đảo Lesbos. Nàng đẹp như một tuyệt thế giai nhân, bi kịch thay, chính cha ruột lại có âm mưu chiếm đoạt nàng. Đau đớn, nhục nhã và tủi hổ, nàng Nyctimene tội nghiệp chạy trốn thật sâu vào rừng với lời thề không bao giờ bước ra ánh mặt trời cũng như sẽ không bao giờ gặp lại con người nữa. Xót xa cho một cái đẹp trong trắng lại đầy lòng tự trọng, nữ thần Minerva liền biến công chúa thành loài chim cú chỉ xuất hiện vào ban đêm. Dựa theo tích này các nhà thiên văn thế kỷ XX liền đặt tên cho một tiểu hành tinh mới có ánh sáng dịu nhẹ, chợt lóe lên rồi tắt tên là Nyctimene với hàm ý không ai có thể biết rõ được!

Trong văn hóa Trung Hoa huyền thoại về biểu tượng cú rất mờ ảo. Dựa vào câu sấm có từ xa xưa là "Huyền điểu sinh Thương" (chim thần sinh ra nhà Thương) vua nhà Thương nhận mình là hậu duệ của thần điểu. Nhưng không rõ cụ thể là chim gì. Các di chỉ khảo cổ thời nhà Thương còn lại đến nay hầu hết đều có hình ảnh con cú. Theo các học giả ngôn ngữ, chữ tượng hình "Thương" trong "giáp cốt văn" (chữ khắc trên xương) giống với khuôn mặt con cú. Những điều này cho thấy, ở thời nhà Thương, chim cú được coi là "linh vật". Nhưng tại sao lại thế thì chưa có lý giải thuyết phục.

Từ cái nhìn "liên văn hóa", đối sánh với biểu tượng cú trong thần thoại Hy Lạp, có một lý giải khả dĩ hơn. Căn cứ vào nhiều cổ vật được khai quật trong các ngôi mộ luôn có hình ảnh một con cú với cái miệng rất sắc nét, khuôn mặt hung dữ, nhất là đôi mắt rất đáng sợ khiến người ta tin rằng thời nhà Thương đã lấy cú làm biểu tượng cho "Thần chiến tranh", cũng đồng nghĩa với biểu tượng chiến thắng. Sau nhà Thương đến nhà Chu. Triều đại sau phải phá bỏ biểu tượng triều đại trước nên nhà Chu kỳ thị loài cú mà đẩy nó trở về một loài chim xấu. 

Giới ngôn ngữ học Nhật Bản cho rằng người Nhật thiện cảm với con cú, có lý do là trong tiếng Nhật chim cú là "Fukuro", chiết tự thì "Fuku" có nghĩa là may mắn và "Ku" nghĩa là đến. Trong văn hóa Nhật, từ xa xưa biểu tượng chim cú có trong những lá bùa phù thủy, ở thời hiện đại, tiếp biến với văn hóa phương Tây, như được bồi đắp thêm những lớp nghĩa tích cực, biểu tượng chim cú được trang trí trên đồ lưu niệm, trên cặp, túi xách...

Ở một số nước Trung Đông, chim cú được coi như một vị thần hộ mệnh luôn bảo vệ con người. Ở châu Mỹ, trong một vài lễ hội, người ta mặc áo lông chim cú với ý nghĩa cầu mong may mắn và xua đuổi ma quỷ. Trong văn hóa dân gian Ấn Độ, cú tượng trưng cho trí thông minh và lòng quảng đại cũng như khả năng tiên tri.

image001.jpg -0
Biểu tượng của học thuật phương Tây!

Khác với nhiều nền văn hóa, con cú trong văn hóa Việt hầu như là biểu tượng cho điềm gở, điềm xấu, kém may mắn, mang lại bất hạnh.

"Sự tích con cú" thiên về giải thích hình dáng, tập quán sống qua đó làm bài học giáo dục đạo đức. Truyện kể ngày xưa, ở trong rừng, muôn loài sống với nhau rất hòa thuận. Vào một buổi chiều nọ, Nai đi nhặt quả vả. Nhưng vả không rụng. Thèm thuồng chỉ biết nhìn những quả vả chín đỏ trên cành, Nai buồn bã trở về. Thấy vậy Cú nói sáng mai đến để Cú rung cây cho vả rụng. Khi Nai đến thì Cú lừa cho Nai sợ hãi mà bỏ chạy. Nai làm đổ cây vừng đen, hạt vừng bắn vào mắt gà. Gà bị bụi mắt, cào tứ tung phá cả ổ kiến lửa. Kiến chạy gặp Sóc liền châm túi bụi. Sóc đau đớn cắn đứt cả dây bí đao. Quả bí rơi trúng lưng Trâu. Trâu hoảng hốt chạy giẫm phải Cua. Suýt chết bẹp, Cua tức tối quyết định kiện lên Trời.

Trời mở phiên tòa. "Đích danh thủ phạm" được tìm ra. Cú bị trói dẫn giải tới công đường nhận hình phạt thích đáng. Bị đóng đinh vào mắt nên từ đó mắt Cú vàng khè, cổ bị bẻ nên lúc nào cũng lệch. Cũng từ đó, xấu hổ với bạn bè nên Cú không dám đi kiếm ăn ban ngày, chỉ đi vào ban đêm. Ai cũng ghét nên xa lánh Cú. Tự nhiên Cú trở thành điều xúi quẩy. Cái hình thức "tai nạn dây chuyền" theo kiểu "hiệu ứng đômino" không phải là để kéo dài truyện ra mà là sự nhắc nhở: phải cẩn thận với kẻ xấu nếu không muốn gặp vạ "dây chuyền"... Vì Cú quá xấu, quá ác. Truyện giải thích lý do tại sao chim cú mèo chỉ đi ăn đêm. Tinh thần giáo huấn rất rõ: vì xảo trá lừa lọc nên phải nhận hình phạt thích đáng!

Thế nên cú gắn liền với những gì bẩn, hôi hám: "Hôi như cú", "Bẩn như cú"; tai ương: "Cú dòm nhà bệnh"; "Rình như cú rình nhà bệnh". Bị xếp vào loại (người) xấu xa, tồi tệ: "Cú có vọ mừng"; "Cú nói có, vọ nói không". "Vọ" cũng là cú (vọ là từ cổ chỉ cú). Để so sánh trong thế đối lập: "Cú đậu cành mai"; "Cú đọ với tiên"; "Cú đội lốt công"... Đồng nghĩa với sự độc ác, nhẫn tâm: "Cú đói ăn con". Với sự ngu dốt: "Cú góp cọp ăn". Âm thanh cú kêu là âm thanh đáng sợ, đáng tránh: "Cú kêu dữ mỏ/miệng cú".

Văn hóa kết tinh trong ngôn ngữ. Thành ngữ "Cú kêu ra ma", "Cú kêu ra, ma kêu vào" có nghĩa đen: ngày xưa người chết thường để lâu có khi bốc mùi hôi mới khâm liệm rồi đưa ma. Cú đánh hơi nên thường bay đến kêu! Nhạc cảm người Việt thích sự nhẹ nhàng êm ái du dương nên đang đêm yên tĩnh lại có âm thanh chói gắt đột ngột "eng éc" như tiếng lợn bị giết nên, nhất là các cụ già khó ngủ, thì đều ác cảm. Sự ác cảm tô đậm thành tín ngưỡng: chim kêu phía nào, phía ấy có người chết. Kêu 7 tiếng là đàn ông, 9 tiếng là đàn bà... Thành ra một con vật có ích ngoài đời lại thành đáng ghét trong văn hóa!

Những câu đố phần nào miêu tả hình dáng, tập quán của cú: "Trông xa tưởng là mèo/  Lại gần hóa ra chim/ Ban ngày ngủ lim dim/ Ban đêm rình bắt chuột - Là con gì?". Là loài chim ăn đêm, có khuôn mặt lạ cùng tập tính sống khác biệt, cú thường biểu tượng cho bóng tối, điềm gở, chẳng lành. Cú có khả năng quay đầu 270º nhờ cổ chứa 14 đốt sống (chim khác là 7). Bộ lông vũ của cú phát triển đặc biệt, giảm thiểu thấp nhất tiếng động khi vỗ cánh. Một con cú có thể ăn khoảng 1.000 con chuột mỗi năm…

Cú bay vào văn chương Việt với tư cách là dấu hiệu cho cái không may, cái ác. Nhà thơ Ngô Thế Lân (sống ở thời Lê mạt) có bài "Trư điểu đề" (Tiếng chim lợn kêu) mượn tiếng chim làm ẩn dụ lên án bọn "sài lang" độc ác, tàn bạo: "Than ôi, lạ thay! Tiếng chim lợn kêu/ Năm canh kêu thét, gió thổi lạnh lẽo/ Thái Sơn xiêu đổ, ban ngày tối mò/ Đất bằng sóng cuộn, mây đen mờ mịt/ Đàn hồng nhạn kêu thương bay tản nơi rừng sâu/ Bầy sài lang đi ngang ngược trên lối đường lớn/ Trong triều ngoài nội ai cũng nín hơi không dám nói/ Than ôi, lạ thay! Tiếng chim lợn kêu!". Bài thơ đậm một tinh thần nhân đạo và hiện thực sâu sắc, tái hiện một xã hội nhuốm màu đen tối thê lương đầy bất công, kẻ có quyền giàu có nghênh ngang, dân đen lam lũ, đói khổ. Không còn là tiếng kêu của cú mà là tiếng kêu của thời đại: Hãy cứu lấy con người!

Thời hiện đại, tác giả Nguyễn Trọng Văn có tiểu thuyết "Tiếng con chim lợn kêu ngang qua" lấy cảm hứng từ câu chuyện là vụ án có thật ngoài đời để sáng tạo ra một mô hình tiểu thuyết khá ấn tượng. Người ta cứ nghĩ oan cho con chim lợn, kỳ thực nó là loài chim hiền lành, có ích. Nhân vật trong truyện cũng vậy!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).